Bệnh ung thư tuyến giáp và những điều cần biết


Ung thư tuyến giáp
Ung thư tuyến giáp là bệnh ung thư phổ biến nhất của các tuyến nội tiết, chiếm khoảng 1% các loại ung thư. Có tỷ lệ mắc 0,5-1/100.000 dân, ở Mỹ tỷ lệ mắc 1,4/100.000; ở Đức 2,7/100.000 dân; ở Anh riêng nữ giới chiếm 2,3/100.000 dân. Năm 2003, ở Mỹ có 22.000 người mắc chiếm 1,61%, thông thường ung thư tuyến giáp ở nữ mắc cao hơn nam 2-3 lần.
Nguyên nhân

Ngày nay những tiến bộ về sinh học phân tử gần đây đã làm sáng tỏ nhiều cơ chế nguyên nhân của bệnh. Người ta cho rằng có sự sắp xếp lại các tyrosine kinase domains của gen RET và TRK. Sự sắp xếp lại trật tự RET gặp trong 5-33% ung thư thể nhú và không có liên quan tới chiếu xạ và 60-80% ở những người có tiền sử chiếu xạ vùng đầu cổ giai đoạn niên thiếu.

Ngoài ra còn một số phối hợp xảy ra khác nhưng tỷ lệ ít hơn như: rối loạn sản sinh nội tiết tố.

Hội chứng Pendred (bướu cổ và điếc thần kinh)-Chiếu xạ liều thấp tuyến giáp ở tuổi thiếu niên có thể gây tăng nguy cơ ung thư tuyến giáp thể
Phân loại ung thư tuyến giáp
Ung thư thể nhú (Papillary thyroid cancer – PTC): Là thể bệnh thường gặp nhất chiếm 70% – 90% các loại ung thư tuyến giáp biệt hóa. Phần lớn bệnh xuất hiện ở trước tuổi 40, bệnh nhân nữ chiếm tỷ lệ nhiều hơn nam.
Ung thư thể nang (Follicular thyroid cancer FTC): Ung thư thể nang thường gặp ở bệnh nhân sống ở vùng thường xuyên thiếu hụt Iod. Chẩn đoán khó khăn vì u nang lành và u nang ác tính thường giống nhau về hình thái. Thường là dựa vào hình ảnh xâm lấn vào u mô thần kinh và các mô lân cận. Tuổi thường gặp lớn hơn 40 tuổi và có xu hướng di căn theo đường máu đến xương, phổi và thần kinh. Tiên lượng nặng hơn K thể nhú.
Ung thư tế bào Hurthle: Thường giống như ung thư thể nang – u tế bào Hurthle có 2 loại: u lành và u ác. Xét nghiệm giải phẫu bệnh cho thấy u tế bào Hurthle có kích thước to hơn tế bào nang. K tế bào Hurthle thường gặp ở người lớn tuổi trên 50 tuổi, ít di căn hạch thường, di căn xương và phổi.
K giáp không biệt hóa: K giáp thể tủy (Medullary thyroid cancer – UTC) thường chiếm 5-10% trong ung thư tuyến giáp. Biểu hiện khối u ở cổ hoặc ở tuyến giáp thường phối hợp với các bệnh lý bạch huyết. Bệnh thường liên quan tới gia đình, những người bị tân sinh đa nội tiết. Xét nghiệm thường cho kết quả calcitonin tăng cao. Lâm sàng bệnh nhân thường xuất hiện đau đầu, đi lỏng, bệnh tiến triển chậm, tiên lượng nặng. Nên xét nghiệm Calcitonin những thành viên trong gia đình nếu có điều kiện, kiểm tra đột biến RET bằng kiểm định DNA là tốt nhất.

Điều trị tốt nhất là cắt bỏ triệt để nếu có di căn kết hợp hoá trị liệu. Điều trị hỗ trợ DCPX 131I không có hiệu quả.

Ung thư thể tủy thường gặp nhiều ổ (multifocal) xâm lấn bên trong tuyến giáp.

Ung thư bất định sản: Về mô học, ung thư gồm 2 loại tế bào nhỏ và tế bào khổng lồ. Loại tế bào khổng lồ là loại ung thư ác tính nhất, 50% bệnh nhân có thể tử vong trong thời gian 6-12 tháng ung thư xâm nhập rất mạnh và di căn sớm thường gặp ở bệnh nhân trên 60 tuổi.
Biểu hiện lâm sàng

Ung thư tuyến giáp thường tiến triển âm thầm, nhất là ung thư tuyến giáp thể nhú. Đối với những người xuất hiện u tuyến giáp thể nhân (đơn nhân hoặc đa nhân). Biểu hiện tuyến giáp to, xuất hiện một nhân hoặc nhiều nhân cứng, bờ gồ ghề di động theo nhịp nuốt, nếu khối u to có thể chèn ép gây khàn tiếng, khó thở, khó nuốt. Những trường hợp xuất hiện như vậy, người bệnh đến cơ sở chuyên khoa khám và xét nghiệm tế bào để chẩn đoán xác định.

- Hạch: thường xuất hiện hạch cùng bên, vùng cảnh thấp, thượng đòn hoặc hạch góc hàm, cổ đối bên. Tuy nhiên nếu xuất hiện các biểu hiện như vậy trên lâm sàng là đã ở giai đoạn muộn của bệnh. Vì thế người bệnh và thầy thuốc cần lưu ý một số yếu tố liên quan đến bệnh nhân xuất hiện u tuyến giáp như sau:

- Bướu giáp to xuất hiện nhân cứng chắc.

Chẩn đoán hình ảnh:

- Xquang

- Xạ hình. Ung thư tuyến giáp ít bắt Iod phóng xạ nên có giá trị chẩn đoán ung thư tuyến giáp giai đoạn di căn hạch.

- Siêu âm: giúp xác định u nang hoặc nhân đặc.

Chẩn đoán sinh hóa:

Định lượng Calcitonia (do tế bào C hoặc tế bào cận giáp tiết ra) thường xuất hiện tăng cao trong trường hợp ung thư thể tủy.

Định lượng FT3, FT4, TSH, Tg, AntiTg để chẩn đoán phân biệt Basedow và đánh giá tiên lượng di căn.
Các phương pháp điều trị

Đối với điều trị K giáp căn cứ vào từng loại bệnh, thể bệnh và giai đoạn bệnh để có biện pháp điều trị cụ thể.

- Phẫu thuật được chỉ định có tính quyết định trong điều trị ung thư tuyến giáp thể biệt hóa. Có nhiều phương pháp phẫu thuật khác nhau được áp dụng, tùy theo kích thước, vị trí tình trạng di căn của khối u. Có thể chỉ định cắt thùy tuyến giáp, cắt toàn bộ tuyến giáp, vét hạch di căn, …

- Điều trị hormon chỉ định đối với ung thư tuyến giáp thể biệt hoá.

- Điều trị tia xạ: Áp dụng 131I sau khi phẫu thuật (RAI- Radioactive iodine) hoặc điều trị tia xạ ngoài, khi độ tập trung Iod tuyến giáp thấp. Doxuribixin (adriamgxin), Cisplatin Etoposide.

Nếu điều trị kịp thời, bệnh nhân K giáp thể nhú thường sống sau 5 năm chiếm 80-90%; Thể nang sống sau 5 năm chiếm 50-70%; Thể tủy sống sau 5 năm chiếm 40%; Thể không biệt hóa sống sau 5 năm là dưới 50%;

Theo dõi:

Thường xuyên 3-6 tháng người bệnh bị ung thư tuyến giáp, nên khám bệnh, theo dõi tại cơ sở chuyên khoa (chỉ định Xquang, xạ hình phát hiện di căn, định lượng hormon tuyến giáp), để có biện pháp theo dõi điều trị kịp thời. Hy vọng rằng người bệnh bị ung thư tuyến giáp sẽ cải thiện chất lượng cuộc sống và kéo dài cuộc sống. Hiện tại số bệnh nhân điều trị ung thư tuyến giáp tại Viện Y học phóng xạ & U bướu quân đội kéo dài từ 5-10 năm số lượng đã lên tới vài chục bệnh nhân và họ thường xuyên được chăm sóc theo dõi định kỳ, sức khỏe rất ổn định.
Read more…

Nga: các ca ung thư tuyến giáp tăng gấp đôi



Nga: các ca ung thư tuyến giáp tăng gấp đôi

Bác sĩ khám tuyến giáp cho một em bé

Các ca ung thư liên quan đến tuyến giáp sẽ tăng gấp đôi tại vùng Briansk, phía tây nước Nga, kể từ nay đến năm 2010, do ảnh hưởng của vụ nổ nhà mày điện nguyên tử Chernobyl vào 20 năm trước.

Theo các thống kê của cơ quan y tế Nga, hiện tại đang có khoảng 1,5 triệu người Nga sinh sống tại 14 khu vực bị ô nhiễm phóng xạ sau sự cố của nhà máy Chernobyl. Chính quyền Nga dự đoán từ nay đến năm 2010, hơn 500 ca ung thư tuyến giáp sẽ được ghi nhận tại Briansk, khu vực bị ảnh hưởng nặng nhất sau vụ nổ ở nhà máy nguyên tử Chernobyl vào ngày 26-4-1986.

Cơ quan y tế Nga khẳng định chỉ riêng tại khu vực này, 122 ca ung thư tuyến giáp đã được phát hiện. Hiện tại, ngoài số cư dân ở các vùng bị nhiễm phóng xạ có nguy cơ mắc bệnh còn có hơn 186.000 người Nga thuộc nhiều lĩnh vực (lính cứu hỏa, binh sĩ và thường dân) đã từng tham gia dọn dẹp sau thảm hoạ trên, mang nguy cơ tiềm ẩn của các tật bệnh liên quan.

Vào tháng 9-2005, Liên Hiệp Quốc đưa ra một bản báo cáo ước tính có 4.000 trường hợp tử vong ở Ukraine, Belarus và Nga, ba nước bị ảnh hưởng nặng nhất. Trong khi đó, tổ chức Greenpeace ước tính có đến 93.000 trường hợp tử vong do ung thư vì nhiễm phóng xạ từ vụ nổ ở Chernobyl.

Read more…

Chữa khỏi ung thư tuyến giáp, có thể mang thai

Tôi năm nay 31 tuổi, bị ung thư tuyến giáp (bướu nhân), nếu được chữa khỏi thì còn có thể có con không? - (Nguyễn Thùy Trang)

Ảnh minh họa


- Ung thư tuyến giáp là loại tương đối “hiền lành” trong các bệnh ung thư. Thông thường, nếu phát hiện bệnh sớm trước khi di căn, khi bướu còn nhỏ, việc điều trị bằng phẫu thuật có thể phối hợp với Iod phóng xạ đem lại kết quả rất tốt.

Biện pháp phẫu thuật thường là cắt toàn bộ tuyến giáp. Do đó, người bệnh cần phải uống bổ sung hormon giáp (thường dùng là loại Levothyroxine) mỗi ngày (suốt đời).

Sau khi điều trị và kiểm tra hiện diện của các tế bào ác tính trong cơ thể, nếu chị được kết luận bệnh đã “được chữa khỏi”, có thể nói rằng chị giống như người bình thường ngoại trừ một điều là mỗi ngày phải uống bổ sung hormon tuyến giáp.

Lúc này, chị có thể có thai như một người bình thường. Tuy nhiên, có hai điều chị cần đặc biệt lưu ý:

+ Một là, nếu chị có điều trị bằng iod phóng xạ (I131) thì chị cần tránh có thai một thời gian (an toàn là sau 6 tháng từ khi dùng iod phóng xạ).

+ Hai là, do nhu cầu về hormon giáp tăng lên trong thai kỳ, liều lượng hormon giáp uống mỗi ngày cần phải tăng lên và tuyết đối không được tự ý ngưng thuốc. Để theo dõi chức năng tuyến giáp và điều chỉnh liều thuốc, chị cần khám và theo dõi tại một trung tâm chuyên khoa nội tiết từ trước khi có thai.

Th.s. BS TRẦN THẾ TRUNG - Bộ môn nội tiết ĐH Y Dược TP.HCM
Read more…

Kiến thức về ung thư tuyến giáp

Tuyến giáp là một tuyến hình bướm nằm ở cổ, bên dưới "quả táo của Adam". Tuyến giáp sản xuất và dự trữ các hormone điều hoà nhịp tim, huyết áp, thân nhiệt và tốc độ chuyển hoá thức ăn thành năng lượng. Các hormone tuyến giáp cũng giúp cho trẻ tăng trưởng và phát triển. Tuyến giáp sử dụng iốt, một khoáng chất được tìm thấy trong một số thực phẩm và trong một số muối được iốt hoá để tạo ra một vài loại hormone cho mình.

Hàng năm, có khoảng hơn 12000 người Mĩ phát hiện ra mình mắc ung thư tuyến giáp; căn bệnh này chiếm khoảng 1% tổng số các loại ung thư. Ung thư tuyến giáp thường đáp ứng tốt với điều trị và nhiều bệnh nhân được chữa khỏi.
Các loại ung thư tuyến giáp

Có bốn dạng chính ung thư tuyến giáp là: dạng nhú, dạng nang, dạng tuỷ và dạng không biệt hoá. Các bác sĩ có thể gọi tên dạng ung thư theo típ tế bào quan sát được trên kÍnh hiển vi hoặc theo kiểu phát triển của khối u.

* Ung thư dạng nhú phát triển tế các tế bào sản xuất các hormone tuyến giáp chứa iốt. Các tế bào ung thư phát triển rất chậm và tạo thành nhiều cấu trúc nhỏ hẹp hình nấm trong khối u. Các bác sĩ thường điều trị thành công các khối u này thậm chÍ ngay cả khi các tế bào u đó lan sang các hạch bạch huyết lân cận. Các khối u dạng nhú chiếm khoảng 60% toàn bộ các dạng ung thư tuyến giáp.

* Các khối u dạng nang cũng phát triển tế các tế bào tạo hormone chứa iốt. Những khối u này có một lớp mô mỏng bao quanh được gọi là vỏ. Nhiều u dạng nang có thể được chữa khỏi. Tuy nhiên, bệnh có thể khó kiểm soát được nếu khối u xâm lấn vào mạch máu hoặc tăng trưởng xuyên qua vỏ sang các cấu trúc vùng cổ lân cận. Khoảng 17% ung thư tuyến giáp là các u dạng nang.

* Các khối u dạng tuỷ ảnh hưởng các tế bào tuyến giáp sản xuất hormone không chứa iốt. Mặc dù những khối u này phát triển chậm nhưng chúng khó kiểm soát hơn so với các u dạng nang và u dạng nhú. Các tế bào ung thư có xu thế lan sang các bộ phận khác của cơ thể. Chỉ có khoảng 5% các loại ung thư tuyến giáp là các khối u dạng tuỷ. Người ta dự đoán rằng cứ 10 người bị ung thư tuyến giáp dạng tuỷ thì có một người là do di truyền.

* Các khối u không biệt hoá là loại tăng trưởng nhanh nhất trong tất cả các loại khối u tuyến giáp. Các tế bào ung thư, đặc biệt bất thường, lan rất nhanh sang các bộ phận khác của cơ thể. Các khối u không biệt hoá chiếm khoảng 18% trong tổng số ung thư tuyến giáp và thường xuất hiện ở những người trên 60 tuổi.

Nguyên nhân gây bệnh

Các bác sĩ chưa biết nguyên nhân nào gây ra hầu hết các trường hợp ung thư tuyến giáp. Tuy nhiên, các nhà khoa học đó nhận ra rằng ung thư tuyến giáp xuất hiện ở phụ nữ nhiều hơn gấp hai đến ba lần so với nam giới và thường gặp ở người da trắng hơn người da đen. Các nhà khoa học cũng chưa hiểu đầy đủ về nguyên nhân gây ra những điều này và họ vẫn tiếp tục nghiên cứu về ung thư tuyến giáp để cố gắng tìm hiểu xem điều gì có thể làm tăng nguy cơ mắc bệnh.

Một yếu tố nguy cơ được biết là sự phơi nhiễm với tia phóng xạ trong suốt thời tuổi thơ. Trước khi các bác sĩ biết được các mối nguy hại của tia phóng xạ thì tia xạ đó được dùng để điều trị mụn trứng cá và để làm giảm phù nề và nhiễm khuẩn trong các cơ quan như tuyến ức, amyđan và các hạch. Những người được điều trị bằng tia xạ vùng đầu và cổ khi còn nhỏ thì có nguy cơ bị ung thư tuyến giáp cao hơn trung bình sau nhiều năm. Các nhà khoa học đang thực hiện các nghiên cứu để xác định xem liệu sự phơi nhiễm với các loại bức xạ khác có gây ung thư tuyến giáp hay không.

Phát hiện bệnh sớm


Viện ung thư quốc gia khuyến cáo rằng bất cứ ai được điều trị bằng tia xạ vùng đầu và cổ khi còn nhỏ phải được bác sĩ khám định kỳ 1-2 năm một lần. Éồng thời, cần đến khám bác sĩ nếu một thành viên trong gia đình bị ung thư tuyến giáp dạng tuỷ. Phần quan trọng nhất của việc kiểm tra sức khoẻ là khám thật cẩn thận vùng cổ, tìm các khối u ở tuyến giáp và các hạch bach huyết lân cận bị to ra. Chụp hình tuyến giáp (scintogram) hoặc siêu âm tuyến giáp có thể được chỉ định cho những người có nguy cơ mắc ung thư tuyến giáp.

Các triệu chứng

Triệu chứng phổ biến nhất của ung thư tuyến giáp là cảm thấy có một khối hoặc một nhân ở vùng cổ. Các triệu trứng khác hiếm gặp. Éau hiếm khi là dấu hiệu cảnh báo sớm của ung thư tuyến giáp. Tuy nhiên, một số bệnh nhân có cảm giác đầy hoặc tắc ở cổ, khó thở hoặc khó nuốt, khản giọng hoặc sưng các hạch bạch huyết. Những triệu chứng này có thể là do ung thư tuyến giáp hoặc những bệnh khác Ít nghiêm trọng hơn gây nên. Chỉ bác sĩ mới có thể xác định được nguyên nhân gây các triệu chứng ở một người bệnh.

Chẩn đoán

Bác sĩ có thể sử dụng một vài thử nghiệm để biết về kÍch cì và vị trÍ của một nhân giáp và/ hoặc để xác định xem một khối u là lành tÍnh (không ung thư) hay ác tÍnh (ung thư). VÍ dụ, bác sĩ có thể cho làm các xét nghiệm máu để kiểm tra chức năng tuyến giáp của bệnh nhân. Cũng như vậy, xạ hình tuyến giáp với iốt phóng xạ có thể phác hoạ các vùng bất thường của tuyến giáp. Để ghi xạ hình người ta đưa vào cơ thể bệnh nhân một một lượng rất nhỏ chất phóng xạ ( thường là iốt l-131 hoặc technetium TC- 99m), chất này tập trung tại tuyến giáp. Một dụng cụ được gọi là máy scanner có thể phát hiện các "ổ lạnh" trong tuyến giáp, là những vùng không hấp thụ iốt như bình thường. Bởi vì các ổ lạnh này có thể là lành tÍnh hoặc ác tÍnh nên cần phải làm thêm các xÉt nghiệm khác nữa.

Siêu âm là một phương pháp khác để có được một bức tranh về tuyến giáp . Trong phương pháp này, các sóng âm tần số cao mà con người không thể nghe thấy truyền vào tuyến giáp. Các thành phần âm dội tế những sóng âm này được chuyển thành hình ảnh (sonogram) nhờ một máy vi tÍnh. Dựa vào đó các bác sĩ có thể kết luận các nhân là nang dịch ( thường là u lành ) hay chúng là các u rắn ( có thể là u ác tÍnh).

Cách chắc chắn duy nhất để nói một bệnh nhân bị ung thư tuyến giáp là quan sát tế bào tuyến giáp trên kÍnh hiển vi. Có hai cách để lấy mẫu của mô tuyến giáp, một là bằng kim hút tế bào (sinh thiết bằng kim) hoặc cắt bỏ khối u bằng phẫu thuật (sinh thiết phẫu thuật). Trong mỗi trường hợp, bác sĩ mô bệnh học nghiên cứu mô lấy được dưới kÍnh hiển vi để tìm kiếm các tế bào ung thư.

Nếu sinh thiết bằng kim hút không cho thấy ung thư thì bác sĩ có thể cho bệnh nhân dùng các hormone tuyến giáp. Những hormone này làm cho tuyến giáp không cần sản xuất các hormone của chÍnh bản thân nó và tuyến giáp, bao gồm cả các nhân, co lại và trở nên bất hoạt. Nếu sinh thiết bằng kim không thể làm sáng tỏ chẩn đoán hoặc nếu các hormone tuyến giáp không hiệu quả thì bệnh nhân đó thường phải có một sinh thiết phẫu thuật.

Khi ung thư tuyến giáp được chẩn đoán , các bác sĩ có thể tiến hành nhiều xÉt nghiệm hơn để xem bệnh đang ở giai đoạn nào. Những kết quả của các xÉt nghiệm này giúp các bác sĩ lập kế hoạch điều trị phù hợp.

Điều trị


Phẫu thuật là phương thức điều trị phổ biến nhất đối với loại ung thư tuyến giáp còn chưa lan sang các phần khác của cơ thể. Bác sĩ phẫu thuật thường cắt bỏ một phần hoặc toàn bộ tuyến giáp và các mô bị ảnh hưởng khác, như các hạch bạch huyết. (Nếu bệnh nhân được sinh thiết bằng phẫu thuật thì có thể tiến hành đồng thời sinh thiết và cắt bỏ tuyến giáp).

Các bệnh nhân bị ung thư tuyến giáp tại chỗ dạng nang hoặc nhú có thể được điều trị bằng I-131 (với liều lớn hơn so với liều dùng để chụp tuyến giáp). Iốt được bệnh nhân uống vào sẽ tập trung tại các tế bào ung thư còn sót lại trong cơ thể sau phẫu thuật. Bằng cách huỷ hoại những tế bào ung thư này, iốt phóng xạ giúp phòng chống bệnh tái phát trở lại. Các bệnh nhân phải nằm viện trong một vài ngày trong khi hoạt tÍnh phóng xạ còn cao nhất. Liệu trình điều trị có thể được lặp lại sau đó.

Các hormone thường được dùng cho các bệnh nhân đó được phẫu thuật cắt bỏ tuyến giáp và / hoặc đó điều trị bằng iốt phóng xạ. Các hormone thay thế cho những loại được tuyến giáp sản xuất trong điều kiện bình thường. Việc điều trị này cũng làm giảm sự tăng trưởng của các tế bào ung thư tuyến giáp còn sót lại trong cơ thể. Bác sĩ có thể cần phải tiến hành một số xÉt nghiệm theo dếi để xem bệnh nhân đó có một lượng phù hợp các hormone cần thiết hay chưa.

Phẫu thuật không được chỉ định cho các bệnh nhân bị ung thư tuyến giáp đó lan rộng. Việc điều trị thông thường bao gồm phương pháp điều trị hệ thống (diệt tế bào ung thư hoặc làm chậm sự tăng trưởng của các tế bào ung thư tuyến giáp trong toàn cơ thể), chẳng hạn như hoá trị liệu, iốt phóng xạ trị liệu, và/hoặc hormone trị liệu.

Việc theo dõi định kỳ sau điều trị ung thư tuyến giáp là rất quan trọng. Theo dõi bao gồm khám lâm sàng toàn thân, chụp X quang, chụp xạ hình, xét nghiệm máu định kỳ.
Read more…

Nhận biết bệnh ung thư tuyến giáp di căn như thế nào?

Tôi phát hiện một cục u ở bên cổ phải, và đi siêu âm với kết quả: Tuyến giáp không to, giữa thùy P có 1 nhân echo rất kém, KT=8mm, không vôi hóa, không tăng sinh mạch máu. Thùy trái cực dưới có 2 nhân echo hỗn hợp vừa dày vừa trống, KT = 5mm. Tuyến mang tai và tuyến dưới hàm hai bên bình thường. Cổ phải có vài hạch echo kém, KT=7-12mm, có khối hoại tử bên trong.

Như vậy tôi đã bị ung thư tuyến giáp di căn rồi phải không? Bệnh này sau khi phẫu thuật có hết không và có biến chứng gì xảy ra? (Một bệnh nhân)

Trả lời của phòng mạch online:

- Theo như bạn mô tả, tuyến giáp của bạn có nhiều nhân, ở cả 2 thùy tuyến giáp, kích thước 5-8 mm, kèm theo có hạch cổ bên phải, kích thước 7-12 mm.

Hầu hết các trường hợp tuyến giáp đa nhân là lành tính, không phải ung thư. Kích thước các nhân giáp của bạn không lớn (dưới 1 cm), hạch cổ có hoại tử bên trong, càng ít có khả năng là bệnh ung thư giáp di căn.

Tuy nhiên, để xác định chính xác loại bệnh gì thì trong trường hợp của bạn cần thực hiện xét nghiệm tế bào học. Cách làm là dùng kim chọc vào vị trí nhân giáp để hút ra một số tế bào và xem dưới kính hiển vi. Các hạch cổ có thể chọc hút như vậy hoặc mổ lấy nguyên toàn bộ một hạch để quan sát dưới kính hiển vi. Tuy nhiên phải do bác sĩ thực hiện.

Trong trường hợp xấu nhất là ung thư, việc phát hiện vào giai đoạn sớm cho phép thực hiện điều trị tối đa (phẫu thuật cắt tuyến giáp, điều trị bằng I-ốt phóng xạ) thường đem lại kết quả rất tốt. Việc phát hiện có hạch ở cổ không phải là một dấu hiệu nặng, nhất là khi hạch còn nhỏ và có thể phẫu thuật cắt bỏ được.

Trước mắt, bạn cần đi khám chuyên khoa Ung bướu và Nội tiết nhằm xác định bản chất của các nhân giáp. Tùy theo kết quả sẽ có các phương pháp điều trị phù hợp. Chúc bạn sớm giải quyết vấn đề này và trở lại cuộc sống bình thường.
Read more…

Ung thư tuyến giáp

Tuyến giáp là tuyến nội tiết lớn nhất cơ thể nằm ở vùng trước dưới của cổ, hình cánh bướm. Tuyến giáp tiết 2 hormon quan trọng trong quá trình phát triển và hoạt động của cơ thể.. Ung thư tuyến giáp là bệnh lý hay gặp ở phụ nữ hơn nam giới. Hiện nay nguyên nhân của ung thư giáp chưa được biết rõ, tuy nhiên những người có tiền sử bị chiếu xạ vùng đầu cổ, mắc các bệnh mãn tính của tuyến giáp có nguy cơ cao hơn người bình thường.

Hầu hết các bệnh nhân tự sờ thấy khối u vùng cổ, đôi khi có khàn tiếng hay nuốt vướng, muộn hơn có thể có loét, vỡ ra da.
Ung thư tuyến giáp

Để chẩn đoán ung thư giáp, các bác sỹ sẽ thăm khám bệnh nhân, siêu âm tuyến giáp và chọc hút tế bào và làm một số xét nghiệm khác.

Điều trị ung thư tuyến giáp chủ yếu là phẫu thuật, tùy theo từng bệnh nhân và giai đoạn bệnh mà bác sỹ quyết định dùng Iod phóng xạ I-131 sau phẫu thuật hay không.

Ung thư tuyến giáp là một bệnh lý có tiên lượng tương đối tốt, nếu được chấn đoán và điều trị kịp thời người bệnh có thể được chữa khỏi.

Hiện nay tại khoa “UNG BƯỚU VÀ CHĂM SÓC GIẢM NHẸ”, bệnh viện đại học Y Hà Nội đã điều trị ung thư tuyến giáp bằng phẫu thuật và làm sinh thiết tức thì ngay trong mổ, phương pháp này rất hiệu quả và đem lại nhiều lợi ích cho bệnh nhân.
Read more…

Tương quan giữa ung thư tuyến giáp và ung thư vú

Một trong những loại ung thư phổ biến nhất mà phụ nữ trong kinh nghiệm của Hoa Kỳ là ung thư vú. Ung thư này đáng chú ý bởi sự tăng trưởng của một khối u trong vú chỉ có thể bật ra được một mối nguy hiểm cho cuộc sống.

Tuy nhiên, có cơ hội mạnh mẽ của đầu một cuộc sống lành mạnh, nếu tình trạng này là công nhận và điều trị sớm. Tỷ lệ tử vong do bệnh ung thư vú đã được trên downslide cho mười năm qua. Tỷ lệ tăng trưởng của các bệnh ung thư và mức độ của tử vong của nó phụ thuộc vào các yếu tố như tuổi tác, tình trạng sức khỏe tổng thể và khả năng chống lại của hệ thống miễn dịch.

Giống như bất kỳ hình thức khác của bệnh ung thư, nguyên nhân chính xác của bệnh ung thư vú cũng nằm không rõ. Một số thay đổi ADN thừa kế có thể làm tăng nguy cơ phát triển ung thư và chịu trách nhiệm đối với bệnh ung thư chạy trong một số gia đình. Bệnh này cũng gây ra bởi đột biến mua, những nguyên nhân trong đó vẫn còn xác. Có một số yếu tố nguy cơ có thể làm tăng xác suất của hợp đồng bệnh. Ung thư vú là 100 lần phổ biến hơn ở phụ nữ hơn nam giới, nguy cơ đó tăng lên theo tuổi. Giới thiệu về 2 trong 3 phụ nữ bị ung thư vú xâm lấn được 55 tuổi hay hơn khi ung thư được phát hiện. Yếu tố di truyền và lịch sử gia đình cũng đóng một vai trò quan trọng. Sự khởi đầu của kinh nguyệt sớm, mô vú dày đặc, cuối thai kỳ, sử dụng thuốc ngừa thai, postmenopausal hormone therapy, vú không cho ăn, uống rượu và béo phì là một số yếu tố liên kết với căn bệnh này.

Các triệu chứng quan trọng nhất của bệnh ung thư vú là sự hiện diện của đau và khó di chuyển cục u trong vú. Các triệu chứng khác là thay đổi hình dạng hoặc kích thước của vú có vẻ không liên quan đến chu kỳ kinh nguyệt, biến thể trong các màu sắc hoặc kết cấu của da của vú và chảy ra từ núm vú. Một sinh thiết kim tốt đẹp của các mô của các lần xác minh xem là khối u lành tính hay ác tính. Surgery, chemotherapy, radiation and hormone therapy are utilized as part of the treatment depending upon the stage of the cancer. Điều trị là thành công hơn, nếu không phải ung thư đã lan ra các hạch bạch huyết hoặc metastasized đến các bộ phận khác của cơ thể - thường phổi, não, xương hoặc gan.


Nghiên cứu đã nêu bật kết quả trái ngược về sự tương quan giữa bệnh ung thư tuyến giáp và ung thư vú. Ung thư vú là một khối u nội tiết tố phụ thuộc. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy rằng các bệnh tuyến giáp là phổ biến ở phụ nữ mắc bệnh ung thư vú, trong khi các báo cáo khác không được xác nhận của hiệp hội. Trong liên minh với bệnh ung thư vú, gần như tất cả các mẫu của bệnh tuyến giáp, bao gồm nodular hyperplasia, hyperthyroidism và ung thư tuyến giáp đã được xác định. Cao phổ biến của các tuyến giáp tự miễn dịch bệnh đã được báo cáo trong số bệnh nhân ung thư vú. Ngoài ra, giảm chức năng của tuyến giáp và mức tăng TSH được biết là làm tăng nguy cơ phát triển bệnh vú fibrocystic.


Mọi thứ trong cơ thể con người là tương quan, đặc biệt là hệ thống nội tiết. Một rối loạn chức năng tuyến giáp có khả năng tạo ra rối loạn ở các bộ phận cơ thể khác đặc biệt là các cơ quan sinh sản. Các cơ chế, nguyên nhân không rõ ràng như được nêu ra, nhưng nó là thận trọng để đánh giá sức khỏe vú ở bệnh nhân rối loạn chức năng tuyến giáp và ngược lại.

Cách duy nhất có thể giúp tránh ung thư vú là một khám vú mỗi ba năm trong độ tuổi từ 20-39 và hàng năm một khi bạn băng qua biên giới 40.
Read more…

Nguy cơ ung thư tuyến giáp khi tiếp xúc phóng xạ


GiadinhNet - Bộ Y tế vừa có cuộc họp với các bộ, ngành liên quan bàn thảo phương án ứng phó với ảnh hưởng của sự cố hạt nhân từ Nhật Bản lên sức khỏe cộng đồng tại Việt Nam.

Theo dự thảo Kế hoạch hành động của Bộ Y tế, kế hoạch ứng phó chia làm hai giai đoạn: Khi phóng xạ chưa ảnh hưởng và khi phóng xạ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người.

Giám sát chặt chẽ đám mây phóng xạ
Theo Bộ Y tế, Việt Nam đang ở trong giai đoạn “chưa bị ảnh hưởng bởi phóng xạ từ Nhật Bản”. Với giai đoạn này, tập trung giám sát các công dân Việt Nam từ Nhật Bản về. Bên cạnh đó, phát hiện sớm và xử lý kịp thời các trường hợp thực phẩm nhập khẩu từ Nhật Bản; xây dựng chương trình dự phòng cho người dân uống thuốc kali iốt để dự phòng nhiễm phóng xạ. Bộ Y tế phối hợp với các Bộ: KH&CN, NN&PTNT, Công Thương triển khai các biện pháp giám sát thực phẩm nhập khẩu từ Nhật Bản. Các trung tâm y tế dự phòng, trung tâm kiểm dịch y tế, chi cục an toàn thực phẩm các địa phương tiến hành giám sát, lấy mẫu thực phẩm nhập khẩu từ Nhật Bản chuyển các đơn vị có đủ năng lực xét nghiệm.



Trẻ em là đối tượng có nguy cơ cao nếu tiếp xúc với phóng xạ.
TS Nguyễn Huy Nga, Cục trưởng Cục Quản lý môi trường y tế (Bộ Y tế) cho biết, hiện phía Cục đang phối hợp với Bộ KH&CN cập nhật các thông tin về ô nhiễm phóng xạ trong môi trường không khí, nước biển tại Nhật Bản và Việt Nam. Theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết, đường đi của các đám mây phóng xạ từ Nhật Bản, đường đi của các dòng hải lưu từ Nhật Bản xuống Việt Nam. Thường xuyên cập nhật thông tin từ Bộ KH&CN về tình hình quan trắc môi trường không khí, nước biển để theo dõi sự thay đổi của nồng độ phóng xạ trong không khí và nước biển.
Không nên tự ý uống kali iốt chống phóng xạ
PGS.TS Mai Trọng Khoa khuyến cáo, người dân không nên tự ý mua kali iốt hay các chế phẩm thuốc có chứa iốt để uống. Chỉ khi nào sống trong vùng nhiễm phóng xạ hay có nguy cơ cao tiếp xúc với nguồn phóng xạ mới nên uống dự phòng. Hiện, môi trường ở Việt Nam không bị ảnh hưởng bởi phóng xạ nên người dân không cần phải uống dự phòng. PGS.TS Khoa cũng cảnh báo, tự ý uống kali iốt không tốt cho sức khỏe. Vì khi cơ thể đang bình thường, bổ sung kali iốt sẽ chỉ gây thêm bệnh.

Ở giai đoạn hai, khi sự cố phóng xạ tại Nhật Bản ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng tại Việt Nam, công tác điều trị kịp thời các trường hợp bị nhiễm phóng xạ. Triển khai có hiệu quả các biện pháp dự phòng cá nhân, cộng đồng về phòng chống nhiễm phóng xạ. Giảm thiểu tác động của phóng xạ tới sức khỏe người dân tại cộng đồng bằng việc uống kali iốt.

Cũng theo phía Bộ Y tế, trong giai đoạn này, tập trung giám sát và xác định các khu vực có nguy cơ ô nhiễm cao tại Việt Nam để triển khai các hoạt động đáp ứng cộng đồng. Cung cấp trang thiết bị bảo hộ đặc chủng cho cán bộ y tế trong trường hợp cần thiết. Ở giai đoạn này, tổ chức triển khai việc cung cấp, cấp phát cho người dân viên kali iốt theo hướng dẫn của cơ quan y tế.

Nguy cơ ung thư tuyến giáp khi tiếp xúc phóng xạ
Theo PGS.TS Mai Trọng Khoa, Phó Giám đốc BV Mạch Mai, Giám đốc Trung tâm Ung bướu BV Bạch Mai, giảm thiểu nguy cơ ung thư tuyến giáp bằng cách chủ động đưa trước một lượng iốt vào cơ thể làm ngừng hoặc không hấp thu iốt phóng xạ xâm nhập vào cơ thể và không có cơ hội tập trung vào tuyến giáp. Lượng iốt phóng xạ sẽ nhanh chóng bị đào thải qua nước tiểu.

Nguy cơ ung thư tuyến giáp sau nổ phóng xạ cao hơn ở trẻ em và người trẻ. Các chuyên gia y tế ước tính, cứ 10.000 người có tiếp xúc với phóng xạ, với một liều nhỏ suốt cuộc đời, sẽ có thêm từ 5-6 người tử vong do ung thư. Ngoài ra, phóng xạ còn gây quái thai dị dạng và biến đổi gene.

Ông Lê Văn Hồng, Phó Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam cho biết: “Khi dùng ngay viên nén kali iốt sẽ chỉ làm giảm nguy cơ nhiễm iốt phóng xạ chứ không phải là chống nhiễm phóng xạ như nhiều người vẫn nghĩ. Sau khi uống, kali iốt sẽ đọng lại trên tuyến giáp và làm bão hòa khả năng hấp thụ của cơ quan này, ngăn cản phóng xạ đọng lại trên tuyến giáp. Tuy nhiên, kali iốt chỉ bảo vệ chúng ta khỏi ngộ độc bởi các đồng vị phóng xạ iốt chứ nó không có hề có hiệu quả chống lại các dạng khác của bức xạ. Trong các mối đe dọa về nguy cơ hạt nhân, iốt phóng xạ chỉ là một trong vô vàn các mối đe dọa gây ra bởi một cơ sở hạt nhân bị hư hỏng”.
Read more…

Nguy có ung thư tuyến giáp khi tiếp xúc với phóng xạ

Bộ Y tế vừa có cuộc họp với các bộ, ngành liên quan bàn thảo phương án ứng phó với ảnh hưởng của sự cố hạt nhân từ Nhật Bản lên sức khỏe cộng đồng tại Việt Nam.

Theo dự thảo Kế hoạch hành động của Bộ Y tế, kế hoạch ứng phó chia làm hai giai đoạn: Khi phóng xạ chưa ảnh hưởng và khi phóng xạ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người.

Giám sát chặt chẽ đám mây phóng xạ
Theo Bộ Y tế, Việt Nam đang ở trong giai đoạn “chưa bị ảnh hưởng bởi phóng xạ từ Nhật Bản”. Với giai đoạn này, tập trung giám sát các công dân Việt Nam từ Nhật Bản về. Bên cạnh đó, phát hiện sớm và xử lý kịp thời các trường hợp thực phẩm nhập khẩu từ Nhật Bản; xây dựng chương trình dự phòng cho người dân uống thuốc kali iốt để dự phòng nhiễm phóng xạ. Bộ Y tế phối hợp với các Bộ: KH&CN, NN&PTNT, Công Thương triển khai các biện pháp giám sát thực phẩm nhập khẩu từ Nhật Bản. Các trung tâm y tế dự phòng, trung tâm kiểm dịch y tế, chi cục an toàn thực phẩm các địa phương tiến hành giám sát, lấy mẫu thực phẩm nhập khẩu từ Nhật Bản chuyển các đơn vị có đủ năng lực xét nghiệm.



Trẻ em là đối tượng có nguy cơ cao nếu tiếp xúc với phóng xạ.
TS Nguyễn Huy Nga, Cục trưởng Cục Quản lý môi trường y tế (Bộ Y tế) cho biết, hiện phía Cục đang phối hợp với Bộ KH&CN cập nhật các thông tin về ô nhiễm phóng xạ trong môi trường không khí, nước biển tại Nhật Bản và Việt Nam. Theo dõi chặt chẽ diễn biến thời tiết, đường đi của các đám mây phóng xạ từ Nhật Bản, đường đi của các dòng hải lưu từ Nhật Bản xuống Việt Nam. Thường xuyên cập nhật thông tin từ Bộ KH&CN về tình hình quan trắc môi trường không khí, nước biển để theo dõi sự thay đổi của nồng độ phóng xạ trong không khí và nước biển.
Không nên tự ý uống kali iốt chống phóng xạ
PGS.TS Mai Trọng Khoa khuyến cáo, người dân không nên tự ý mua kali iốt hay các chế phẩm thuốc có chứa iốt để uống. Chỉ khi nào sống trong vùng nhiễm phóng xạ hay có nguy cơ cao tiếp xúc với nguồn phóng xạ mới nên uống dự phòng. Hiện, môi trường ở Việt Nam không bị ảnh hưởng bởi phóng xạ nên người dân không cần phải uống dự phòng. PGS.TS Khoa cũng cảnh báo, tự ý uống kali iốt không tốt cho sức khỏe. Vì khi cơ thể đang bình thường, bổ sung kali iốt sẽ chỉ gây thêm bệnh.

Ở giai đoạn hai, khi sự cố phóng xạ tại Nhật Bản ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng tại Việt Nam, công tác điều trị kịp thời các trường hợp bị nhiễm phóng xạ. Triển khai có hiệu quả các biện pháp dự phòng cá nhân, cộng đồng về phòng chống nhiễm phóng xạ. Giảm thiểu tác động của phóng xạ tới sức khỏe người dân tại cộng đồng bằng việc uống kali iốt.

Cũng theo phía Bộ Y tế, trong giai đoạn này, tập trung giám sát và xác định các khu vực có nguy cơ ô nhiễm cao tại Việt Nam để triển khai các hoạt động đáp ứng cộng đồng. Cung cấp trang thiết bị bảo hộ đặc chủng cho cán bộ y tế trong trường hợp cần thiết. Ở giai đoạn này, tổ chức triển khai việc cung cấp, cấp phát cho người dân viên kali iốt theo hướng dẫn của cơ quan y tế.

Nguy cơ ung thư tuyến giáp khi tiếp xúc phóng xạ
Theo PGS.TS Mai Trọng Khoa, Phó Giám đốc BV Mạch Mai, Giám đốc Trung tâm Ung bướu BV Bạch Mai, giảm thiểu nguy cơ ung thư tuyến giáp bằng cách chủ động đưa trước một lượng iốt vào cơ thể làm ngừng hoặc không hấp thu iốt phóng xạ xâm nhập vào cơ thể và không có cơ hội tập trung vào tuyến giáp. Lượng iốt phóng xạ sẽ nhanh chóng bị đào thải qua nước tiểu.

Nguy cơ ung thư tuyến giáp sau nổ phóng xạ cao hơn ở trẻ em và người trẻ. Các chuyên gia y tế ước tính, cứ 10.000 người có tiếp xúc với phóng xạ, với một liều nhỏ suốt cuộc đời, sẽ có thêm từ 5-6 người tử vong do ung thư. Ngoài ra, phóng xạ còn gây quái thai dị dạng và biến đổi gene.

Ông Lê Văn Hồng, Phó Viện trưởng Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam cho biết: “Khi dùng ngay viên nén kali iốt sẽ chỉ làm giảm nguy cơ nhiễm iốt phóng xạ chứ không phải là chống nhiễm phóng xạ như nhiều người vẫn nghĩ. Sau khi uống, kali iốt sẽ đọng lại trên tuyến giáp và làm bão hòa khả năng hấp thụ của cơ quan này, ngăn cản phóng xạ đọng lại trên tuyến giáp. Tuy nhiên, kali iốt chỉ bảo vệ chúng ta khỏi ngộ độc bởi các đồng vị phóng xạ iốt chứ nó không có hề có hiệu quả chống lại các dạng khác của bức xạ. Trong các mối đe dọa về nguy cơ hạt nhân, iốt phóng xạ chỉ là một trong vô vàn các mối đe dọa gây ra bởi một cơ sở hạt nhân bị hư hỏng”.
Read more…

Phương pháp điềutrij ung thư tuyến giáp

Ung thư (K) tuyến giáp là bệnh ung thư phổ biến nhất của các tuyến nội tiết, chiếm khoảng 1% các loại ung thư. Có tỷ lệ mắc 0,5-1/100.000 dân, ở Mỹ tỷ lệ mắc 1,4/100.000; ở Đức 2,7/100.000 dân; ở Anh riêng nữ giới chiếm 2,3/100.000 dân. Năm 2003, ở Mỹ có 22.000 người mắc chiếm 1,61%, thông thường ung thư tuyến giáp ở nữ mắc cao hơn nam 2-3 lần. 
 
ung thư tuyến giáp

Nguyên nhân bệnh ung thư tuyến giáp

Ngày nay những tiến bộ về sinh học phân tử gần đây đã làm sáng tỏ nhiều cơ chế nguyên nhân của bệnh. Người ta cho rằng có sự sắp xếp lại các tyrosine kinase domains của gen RET và TRK. Sự sắp xếp lại trật tự RET gặp trong 5-33% ung thư thể nhú và không có liên quan tới chiếu xạ và 60-80% ở những người có tiền sử chiếu xạ vùng đầu cổ giai đoạn niên thiếu.

Ngoài ra còn một số phối hợp xảy ra khác nhưng tỷ lệ ít hơn như: rối loạn sản sinh nội tiết tố.

Hội chứng Pendred (bướu cổ và điếc thần kinh)-Chiếu xạ liều thấp tuyến giáp ở tuổi thiếu niên có thể gây tăng nguy cơ ung thư tuyến giáp thể nhú.
Phân loại ung thư tuyến giáp

Ung thư thể nhú (Papillary thyroid cancer – PTC): Là thể bệnh thường gặp nhất chiếm 70% – 90% các loại ung thư tuyến giáp biệt hóa. Phần lớn bệnh xuất hiện ở trước tuổi 40, bệnh nhân nữ chiếm tỷ lệ nhiều hơn nam.

Ung thư thể nang (Follicular thyroid cancer FTC): Ung thư thể nang thường gặp ở bệnh nhân sống ở vùng thường xuyên thiếu hụt Iod. Chẩn đoán khó khăn vì u nang lành và u nang ác tính thường giống nhau về hình thái. Thường là dựa vào hình ảnh xâm lấn vào u mô thần kinh và các mô lân cận. Tuổi thường gặp lớn hơn 40 tuổi và có xu hướng di căn theo đường máu đến xương, phổi và thần kinh. Tiên lượng nặng hơn K thể nhú.

Ung thư tế bào Hurthle: Thường giống như ung thư thể nang – u tế bào Hurthle có 2 loại: u lành và u ác. Xét nghiệm giải phẫu bệnh cho thấy u tế bào Hurthle có kích thước to hơn tế bào nang. K tế bào Hurthle thường gặp ở người lớn tuổi trên 50 tuổi, ít di căn hạch thường, di căn xương và phổi.

K giáp không biệt hóa: K giáp thể tủy (Medullary thyroid cancer – UTC) thường chiếm 5-10% trong ung thư tuyến giáp. Biểu hiện khối u ở cổ hoặc ở tuyến giáp thường phối hợp với các bệnh lý bạch huyết. Bệnh thường liên quan tới gia đình, những người bị tân sinh đa nội tiết. Xét nghiệm thường cho kết quả calcitonin tăng cao. Lâm sàng bệnh nhân thường xuất hiện đau đầu, đi lỏng, bệnh tiến triển chậm, tiên lượng nặng. Nên xét nghiệm Calcitonin những thành viên trong gia đình nếu có điều kiện, kiểm tra đột biến RET bằng kiểm định DNA là tốt nhất.

Điều trị tốt nhất là cắt bỏ triệt để nếu có di căn kết hợp hoá trị liệu. Điều trị hỗ trợ DCPX 131I không có hiệu quả.

Ung thư thể tủy thường gặp nhiều ổ (multifocal) xâm lấn bên trong tuyến giáp.

Ung thư bất định sản: Về mô học, ung thư gồm 2 loại tế bào nhỏ và tế bào khổng lồ. Loại tế bào khổng lồ là loại ung thư ác tính nhất, 50% bệnh nhân có thể tử vong trong thời gian 6-12 tháng ung thư xâm nhập rất mạnh và di căn sớm thường gặp ở bệnh nhân trên 60 tuổi.

Biểu hiện lâm sàng:

Ung thư tuyến giáp thường tiến triển âm thầm, nhất là ung thư tuyến giáp thể nhú. Đối với những người xuất hiện u tuyến giáp thể nhân (đơn nhân hoặc đa nhân). Biểu hiện tuyến giáp to, xuất hiện một nhân hoặc nhiều nhân cứng, bờ gồ ghề di động theo nhịp nuốt, nếu khối u to có thể chèn ép gây khàn tiếng, khó thở, khó nuốt. Những trường hợp xuất hiện như vậy, người bệnh đến cơ sở chuyên khoa khám và xét nghiệm tế bào để chẩn đoán xác định.
Hạch: thường xuất hiện hạch cùng bên, vùng cảnh thấp, thượng đòn hoặc hạch góc hàm, cổ đối bên. Tuy nhiên nếu xuất hiện các biểu hiện như vậy trên lâm sàng là đã ở giai đoạn muộn của bệnh. Vì thế người bệnh và thầy thuốc cần lưu ý một số yếu tố liên quan đến bệnh nhân xuất hiện u tuyến giáp như sau:
Bướu giáp to xuất hiện nhân cứng chắc.
Chẩn đoán hình ảnh:
Xquang
Xạ hình. Ung thư tuyến giáp ít bắt Iod phóng xạ nên có giá trị chẩn đoán ung thư tuyến giáp giai đoạn di căn hạch.
Siêu âm: giúp xác định u nang hoặc nhân đặc.
Chẩn đoán sinh hóa:

Định lượng Calcitonia (do tế bào C hoặc tế bào cận giáp tiết ra) thường xuất hiện tăng cao trong trường hợp ung thư thể tủy.

Định lượng FT3, FT4, TSH, Tg, AntiTg để chẩn đoán phân biệt Basedow và đánh giá tiên lượng di căn.
Các phương pháp điều trị

Đối với điều trị K giáp căn cứ vào từng loại bệnh, thể bệnh và giai đoạn bệnh để có biện pháp điều trị cụ thể.
Phẫu thuật được chỉ định có tính quyết định trong điều trị ung thư tuyến giáp thể biệt hóa. Có nhiều phương pháp phẫu thuật khác nhau được áp dụng, tùy theo kích thước, vị trí tình trạng di căn của khối u. Có thể chỉ định cắt thùy tuyến giáp, cắt toàn bộ tuyến giáp, vét hạch di căn, …
Điều trị hormon chỉ định đối với ung thư tuyến giáp thể biệt hoá.
Điều trị tia xạ: Áp dụng 131I sau khi phẫu thuật (RAI- Radioactive iodine) hoặc điều trị tia xạ ngoài, khi độ tập trung Iod tuyến giáp thấp. Doxuribixin (adriamgxin), Cisplatin Etoposide.

Nếu điều trị kịp thời, bệnh nhân K giáp thể nhú thường sống sau 5 năm chiếm 80-90%; Thể nang sống sau 5 năm chiếm 50-70%; Thể tủy sống sau 5 năm chiếm 40%; Thể không biệt hóa sống sau 5 năm là dưới 50%;
Theo dõi:

Thường xuyên 3-6 tháng người bệnh bị ung thư tuyến giáp, nên khám bệnh, theo dõi tại cơ sở chuyên khoa (chỉ định Xquang, xạ hình phát hiện di căn, định lượng hormon tuyến giáp), để có biện pháp theo dõi điều trị kịp thời. Hy vọng rằng người bệnh bị ung thư tuyến giáp sẽ cải thiện chất lượng cuộc sống và kéo dài cuộc sống. Hiện tại số bệnh nhân điều trị ung thư tuyến giáp tại Viện Y học phóng xạ & U bướu quân đội kéo dài từ 5-10 năm số lượng đã lên tới vài chục bệnh nhân và họ thường xuyên được chăm sóc theo dõi định kỳ, sức khỏe rất ổn định.
Read more…

Tổng thống Argentina bị chẩn đoán ung thư tuyến giáp sai


Nữ Tổng thống Argentina Cristina Fernandez de Kirchner phải trải qua 3 tiếng rưỡi đồng hồ để phẫu thuật loại bỏ tế bào ung thư tuyến giáp song thực tế bà bị chẩn đoán sai.
Tổng thống Argentina Cristina Fernandez de Kirchner.

Cuộc xét nghiệm mô cuối cùng cho thấy không hề có "sự hiện diện của khối u ở cả hai thùy tuyến giáp", do đó thay đổi hoàn toàn kết quả chuẩn đoán ban đầu là bà Kirchner bị ung thư tuyến giáp, Alfredo Scoccimarro - người phát ngôn của nữ Tổng thống cho hay.

Với chuẩn đoán mới nhất này, đội ngũ y tế phục vụ bà Kirchner cho rằng "điều trị hậu phẫu cần được thực hiện đầy đủ và việc chiếu xạ là không còn cần thiết".

Bà Kirchner, 58 tuổi, đã được ra viện sau cuộc phẫu thuật hôm 4.1 và hiện đang hồi phục sức khỏe tại nhà.

Dự kiến, bà Kirchner sẽ trở lại làm việc vào cuối tháng này. Trong thời gian chờ nữ Tổng thống "nghỉ ngơi và hồi phục tối đa sức khỏe", Phó Tổng thống Amado Boudou tạm thời thay thế điều hành đất nước.

Nữ Tổng thống Cristina Kirchner tái đắc cử với 45% tổng số phiếu tại cuộc bầu cử vào tháng 10.2011, đã nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân Argentina nhờ sự hào phóng trong việc chi ngân sách nâng cao phúc lợi xã hội. Khi biết bà phải phẫu thuật loại bỏ khối u tuyến giáp, hàng trăm người ủng hộ cắm trại gần bệnh viện để động viên nhà lãnh đạo yêu quý của họ.
Read more…

Bệnh ung thư tuyến giáp có di truyền không, em có nên kết hôn?

Chào bác sĩ

Cho em hỏi bệnh ung thư tuyến giáp có di truyền không? Em là nữ muốn lập gia đình thì có ảnh hưởng gì không? Em có thể có con như những người bình thường khác không? Và liệu bệnh này có di truyền cho thế hệ sau không?

Em bị ung thư tuyến giáp lúc 9 tuổi, đã phẫu thuật 2 lần. Hiện nay em đang điều trị I-131 được 5 lần. Liều lượng gồm 2mlci và 30mlci. Kết hợp thuốc Berthyrox 1.5 viên/ngày. (Hong Nhung, 19 tuổi - Diên Khánh, Khánh Hòa)

TS.BS Lê Tuyết Hoa:

Chào Hong Nhung,

Thật sự không thể trả lời chính xác câu hỏi của em. Bệnh ung thư nói chung hiện nay đã được chứng minh là có di truyền, tuy nhiên, không phải ai có gen này cũng phát triển thành ung thư cả, em ạ.

Việc mang thai sẽ tùy vào sự bình thường của chức năng tuyến giáp của em. Bởi vì sau khi phẫu thuật ung thư giáp, người bệnh hầu hết bị suy giáp và phải dùng Berthyrox suốt đời.

Chúc em có nhiều niềm vui trong cuộc sống!
Read more…

Mất vị giác sau xạ trị ung thư tuyến giáp

Năm nay em 29 tuổi, bị ung thư tuyến giáp thể nhú đã phẫu thuật cắt toàn bộ tuyến giáp, nạo hạch khoang trung tâm và điều trị iôt-131 được 2 tuần. Trong kết quả xét nghiệm của em trước khi xạ trị ghi: TSH > 100, Tg: 5,53 ng/ml. ATg: 25,76 IU/ml. Siêu âm tuyến giáp thấy hai bên cổ có vài hạch 4-6 mm.

Sau khi xạ trị kết quả xạ hình toàn thân ghi: mô giáp sót bắt xạ nhiều. Toàn thân chưa thấy di căn xa. Tuy nhiên ra viện đã 2 tuần rồi nhưng em vẫn bị khô miệng và mất vị giác, không cảm nhận được vị mặn và ngọt.

Mong bác sĩ giải đáp về các kết quả và chỉ giúp em có cách nào để khắc phục tình trạng mất vị giác.


Phạm Như Hoa

- Trả lời của phòng mạch online:

Chào Hoa, tôi xin giải thích các xét nghiệm và một số nhận định về tình trạng bệnh của em như sau:

TSH > 100 mU/L: đây là xét nghiệm để kiểm tra điều kiện (suy giáp) trước khi thực hiện xét nghiệm xạ hình toàn thân. Thông thường bệnh nhân cần ngưng các loại thuốc hormon giáp (levothyroxin) khoảng 4 tuần trước khi làm xạ hình để kết quả được chính xác. Sau khi làm xét nghiệm này, người bệnh cần uống lại hormon giáp như trước và chỉ số TSH sẽ giảm trở lại.

Tg và Anti-Tg antibody: đây là những xét nghiệm giúp đánh giá tuyến giáp và các tế bào ung thư đã được cắt hết, tiêu diệt hết hay còn sống sót, còn tồn tại trong cơ thể. Kết quả như trên phù hợp với kết quả xạ hình là còn “mô giáp sót bắt xạ nhiều”. Với những kết quả như trên, có thể kết luận các tế bào của tuyến giáp chưa bị tiêu diệt hoàn toàn và cần tiếp tục điều trị bằng iôt phóng xạ.

Khô miệng, mất vị giác và đôi khi đau góc hàm là những biểu hiện của tình trạng viêm tuyến nước bọt do điều trị bằng iôt-131 gây ra. Một số biện pháp giúp cải thiện tình trạng này gồm uống nhiều nước, giữ vệ sinh răng miệng, nhai kẹo cao su không đường, dùng thuốc thay thế nước bọt và châm cứu. Các triệu chứng thường giảm dần sau một thời gian. Trường hợp triệu chứng gây khó chịu nhiều, em nên đi khám bác sĩ chuyên khoa tai - mũi - họng để được hướng dẫn và điều trị phù hợp.
Read more…

Prôtêin giúp xác định những bướu nhân ung thư tuyến giáp.

Việc tìm thấy phân tử lectin trong khối u ở tuyến giáp (galectin-3) có thể giúp việc phát hiện các khối u mang ung thư một cach dễ dàng hơn và giảm một số phẫu thuật không cần thiết.

Theo như 1 nghiên cứu ở ItaliaPhương pháp chung để quyết định một khối u ác tính là xét nghiệm các tế bào được lấy ra khi chọc hút kim nhỏ.Khoảng 85% các khối u ở tuyến giáp được mổ cắt đi lại là u lành.Bình thường, Galectin-3 không có ở các tế bào tuyến giáp. Khi nó xuất hiên, nó có thể ngăn trở các tế bào chết và dẫn đến sự phát triển của ung thư, theo như báo cáo của các nhà nghiên cứu. Trong công trình này, các nhà nghiên cứu ở bệnh viện Andread (Rome) đã theo dõi những biểu hiện của galectin-3 trong số 465 bệnh nhân được tiến hành phẫu thuật để cắt bỏ khối u ở tuyến giáp. Sau khi khối u được cắt bỏ, kết quả mô cuối cùng quyết định chúng là ung thư hay u lành, được so sánh với những gì có được từ việc xét nghiệm tìm galectin-3 trước khi phẫu thuật.Galectin-3 đã không có mặt trong 331(71%) trong số 465 khối u và trong số những khối u âm tính với galectin-3 này thì 280(85%) là u lành,29 (9%) là ung thư và số còn lại là ở giữa lành và ung thư. Các nhà nghiên cứu kết luận độ nhạy của việc xét nghiệm galectin-3 là 78%, độ đặc hiệu là 93%, giá trị chẩn đoán dương tính là 82%, âm tính là 91%.Những kết quả này được đưa ra trên trang điện tử và trong tạp chí Lancet Oncology.“Phương pháp galectin-3 được đưa ra ở đây không thay thế phương pháp tế bào học chọ hút kim nhỏ thông thường, nhưng nó cũng đưa ra một phương pháp chẩn đoán phụ trợ, bổ sung cho những khối u nang khó xác định.Việc tiếp cận chính xác những mô tả về đặc tính trước khi tiến hành các phẫu thuật khối u ở tuyến giáp luôn cần có nhưng quá trình kiểm tra đánh giá chuyên môn đa ngành cho từng bệnh nhân, theo những chỉ dẫn có sẵn
Read more…

Một mình đương đầu với bệnh ung thư tuyến giáp

 Một mình chị vượt qua mọi khó khăn, nỗi đau, khi phải vò võ một mình đi điều trị cho căn bệnh khi không có người thân nào bên cạnh. Chưa biết chị sẽ sống được bao lâu nữa, nhưng hiện nay chẳng bao giờ chị nghĩ ngợi về bệnh tật. Chị vẫn đi làm, vẫn sinh hoạt bình thường.

Chào Vân,


Cho phép chị gọi Vân bằng em vì năm nay chị đã 40 tuổi. Đọc bài tâm sự của em chị rất hiểu tâm trạng của em lúc này và qua đó chị cũng muốn gửi đến em một vài lời tâm sự, cũng như lời nhắn nhủ của chị dành cho trường hợp của em hiện nay nhé.

Trước hết chị xin nói cho em biết chị đang là một bệnh nhân ung thư, chị bị ung thư tuyến giáp. Bệnh của chị được phát hiện sau khi chị sinh được bé trai 8 tháng. Cuộc đời chị giống như là một câu chuyện hư cấu chứ không phải là một thực tế, rất nhiều đau khổ nhưng chị vẫn cố gắng để chấp nhận và vượt qua tất cả mọi khó khăn.

Không phải chị kể lể về hoàn cảnh của riêng mình, nhưng chị muốn nói rõ để em thấy rằng cuộc đời không có gì là không có thể và không thể vượt qua. Chị và chồng cũ rạn nứt từ rất lâu và chị đã phải trải qua 2 lần phẫu thuật khi phát hiện mình bị ung thư khi con còn quá nhỏ và phải một mình cáng đáng tất cả mọi thứ.

Và tệ hơn nữa là chị và chồng cũ ly hôn để anh ấy ra đi với người mới sau bao nhiêu năm chị vẫn cố gắng níu kéo để gìn giữ lấy gia đình. Một thân một mình phải chống chọi với bệnh tật, một căn bệnh mà ở đó con bệnh rất cần có một tinh thần lạc quan vui vẻ và hạnh phúc, nhưng chẳng những thế chị còn phải chịu nỗi đau chia ly và con cái tan đàn xẻ nghé vì lỗi lầm của kẻ làm cha, làm mẹ.

Thế đó chị đã một mình vượt qua mọi khó khăn, nỗi đau, khi phải vò võ một mình đi điều trị cho căn bệnh của mình khi không có một người thân nào ở bên cạnh để san sẻ nỗi đau và sự cô đơn. Chưa biết chị sẽ sống được bao lâu nữa, nhưng hiện nay chẳng bao giờ chị nghĩ ngợi về bệnh tật của mình. Chị vẫn đi làm, vẫn sinh hoạt bình thường, chỉ cảm thấy mệt mỏi khó khăn khi đến đợt điều trị mà thôi.

Nhưng đến giờ này, khi ra đường hoặc gặp người lạ, chẳng ai biết chị là người mang đầy bệnh tật và cả căn bệnh nan y này nữa. Tất cả chỉ nhờ vào sự quyết tâm và mục đích sống của chị là phải cố khỏe mạnh để lo cho đứa con trai nhỏ năm nay sẽ chuẩn bị vào lớp 1 và cố gắng sống để lo cho bé đến khi trưởng thành.

Vân à, chị nghĩ việc cần làm hiện nay của em là nên đến một bệnh viện uy tín để tầm soát lại, để có kết quả chính xác cho căn bệnh của mình. Phải biết rõ là mình có mang bệnh hay không? Nếu em cứ trốn tránh sự thật thì chẳng những đó là điều không hay mà còn có thể làm em suy sụp tinh thần nhanh chóng nữa.

Nếu có bệnh thì mình điều trị, mình cứ tin tưởng và lạc quan để mà sống. Được làm thân người là một điều rất khó. Vậy tại sao ta lại không sống sao cho xứng đáng khi được một kiếp người.Khả năng Vân bị ung thư phổi là rất thấp (02/08)
Read more…

Nữ Tổng thống Argentina Cristina Fernandez de Kirchner bị ung thư tuyến giáp và sẽ phải trải qua một đợt phẫu thuật vào ngày 4.1.2012 - phát ngôn viên chính phủ nước này Alfredo Scoccimarro thông báo ngày 28.12.

Nữ Tổng thống Argentina Cristina Fernandez de Kirchner.

Tuy nhiên, ông Scoccimarro cho hay căn bệnh ung thư của bà Kirchner không hề có dấu hiệu di căn, do đó không hề gây nguy hiểm tới tính mạng. Xác nhận thông tin này, bác sĩ Guillermo Temperley - Giám đốc Bệnh viện Municipal de Oncologia Marie Curie tại Buenos Aires, nơi bà Kirchner sẽ tiến hành ca phẫu thuật - cho hay, đây chỉ là một ca phẫu thuật đơn giản nhằm bóc tách khối u. Bác sĩ Temperley khẳng định vị Tổng thống Argentina có thể sống khoẻ mạnh thêm nhiều năm nữa. Tổ chức sức khoẻ phi lợi nhuận của Mỹ Mayo Clinic cho hay, hầu hết các ca bệnh bị ung thư tuyến giáp đều có thể chữa khỏi.

Bà Kirchner (58 tuổi) được bầu làm Tổng thống Argentina lần 2 vào ngày 23.10.2011, nhờ đưa ra được các chính sách phát triển kinh tế trong bối cảnh kinh tế ảm đạm. Ngày 22.12, bà Kirchner được phát hiện bị ung thư tuyến giáp. Vì vậy, bà Kirchner sẽ tạm thời không tham gia công việc chính phủ từ nay đến ngày 24.1.2012, mà uỷ quyền cho Phó Tổng thống Amado Boudou. Chồng của bà Kirchner chính là Tổng thống Nestor Kirchner - người điều hành Argentina từ năm 2003 - 2007, song ông qua đời hồi tháng 10.2010 do một cơn đau tim.
Read more…

Ung Thư Tuyến Giáp Trạng

Thyroid
Tuyến giáp trạng có hình dạng của một con bướm nằm trước cổ, bên dưới thanh quản, gồm hai phần (2 lobes hoặc 2 thùy). Hai phần này được ngăn ra bởi isthmus, nằm giữa. Một tuyến giáp trạng bình thường có kích thước khoảng 3-4 cm, nằm dưới da nên khó có thể sờ nắn. Tuyến giáp trạng gồm hai loại tế bào, cả hai đều tiết nội tiết tố.
• Tế bào follicular (thyroid follicular cell) tiết ra nội tiết tố giáp trạng, nội tiết tố này ảnh hưởng đến nhịp tim, huyết áp,thân nhiệt và trọng lượng.
• Tế bào C tiết ra calcitonin, nội tiết tố này điều tiết lượng calcium trong máu.
Bốn tuyến cận giáp (parathyroid) nằm sau tuyến giáp trạng. Các tuyến này tiết ra nội tiết tố parathyroid có nhiệm vụ giúp cơ thể duy trì một lượng calcium cân bằng.
Căn bản về ung thư
Ung thư xuất phát từ tế bào, đơn vị căn bản của mô. Bình thường tế bào da tăng trưởng, sinh sản và tạo tế bào mới. Mỗi ngày tế bào da già lão, chết và tế bào mới thay thế.
Đôi khi tiến trình sinh hóa trật tự này trở nên bất thường. Tế bào mới xuất hiện khi không cần thiết, và tế bào già lão hoặc tế bào hư hoại không chết như đã định. Các tế bào dư thừa này tạo thành khối, gọi là khối u hay bướu.
Bướu hay khối u có thể "lành" (benign) hoặc "độc" (cancerous):
Bướu lành:
• Ít khi gây tử vong
• Không ăn lậm (invasive) đến các mô lân cận
• Không lan xa đến những bộ phận khác trong cơ thể
Bướu độc như ung thư:
• Có thể gây tử vong
• Có thể tái phát sau khi đã được cắt bỏ, chữa trị
• Có thể ăn lậm đến các mô lân cận
• Lan ra các bộ phận khác; việc lan tràn của khối u gọi là metastasis.
Các loại ung thư tại tuyến giáp trạng
1. Papillary: chiếm 80-90% những loại ung thư giáp trạng, khởi thủy từ loại tế bào follicular. Loại ung thư này tăng trưởng chậm, nếu tìm thấy sớm, việc trị liệu có kết quả rất khả quan.
2. Follicular: Khoảng 15% các loại ung thư giáp trạng, loại ung thư này xuất phát từ tế bào follicular, tăng trưởng chậm; nếu tìm thấy sớm, việc trị liệu có kết quả rất khả quan.
3. Medullary: Khoảng 3% các loại ung thư giáp trạng, loại ung thư này khởi thủy từ tế bào C. Loại ung thư này tạo ra một lượng calcitonin rất cao; nếu tìm thấy sớm và trị liệu sớm trước khi ung thư lan ra những nơi khác, kết quả rất khả quan.
4. Anaplastic: Loại ung thư giáp trạng hiếm có (khoảng 1-2%), khởi thủy từ tế bào follicular. Loại ung thư này rất khó tìm và khó chữa vì tế bào ung thư tăng trưởng nhanh chóng.
Dù chưa biết rõ nguyên nhân gây ung thư tuyến giáp trạng, nhưng y học đã tìm ra một số yếu tố liên quan đến loại ung thư này, gia tăng tỷ lệ bị ung thư, gọi là "risk factors". Tuy nhiên, vẫn có nhiều bệnh nhân bị ung thư mà không có yếu tố rủi ro nào cũng như người có nhiều yếu tố rủi ro nhưng vẫn không bị ung thư.
Các cuộc nghiên cứu cho thấy các yếu tố sau đây gia tăng tỷ lệ ung thư tuyến giáp trạng:
• Quang tuyến: Những cuộc chữa trị quang tuyến quanh vùng cổ sẽ gia tăng tỷ lệ ung thư tuyến giáp trạng, loại papillary hoặc follicular. Nguồn quang tuyến thông thường nhất đến từ việc trị liệu. Từ những năm 1920 -1950, bác sĩ thường sử dụng quang tuyến để chữa trị chứng sưng hạch hạnh nhân (tonsils, amidal) ở trẻ em, mụn ở mặt (acne) cũng như những chứng bệnh khác tại đầu & cổ. Những bệnh nhân này về sau, đa số đều bị ung thư tuyến giáp trạng.
Những loại quang tuyến dùng để chẩn bệnh như X-ray chụp hình phổi hoặc răng thường có lượng quang tuyến rất thấp so với loại quang tuyến dùng vào việc trị liệu. Tuy nhiên, khi dùng thường xuyên lượng quang tuyến có thể lên cao, nên thảo luận với bác sĩ, nha sĩ về việc dùng hình quang tuyến để chẩn bệnh và chỉ dùng khi cần thiết.
Một nguồn quang tuyến khác đến từ việc thử bom nguyên tử, những nhà máy chứa chất phóng xạ gặp tai nạn. Chẳng hạn như nguồn quang tuyến đến từ hậu quả phóng xạ nguyên tử (radioactive fallout) khi thử bom nguyên tử (tại Hoa Kỳ cũng như những nơi khác trên thế giới vào những năm 1950 - 1960), từ những trung tâm nguyên tử lực (nuclear power plants) gặp tai nạn (Chernobyl năm 1986) và chất phóng xạ thải ra từ những nhà máy sản xuất võ khí nguyên tử như Hansford tại tiểu bang Washington năm 1940. Những chất phóng xạ này thường là I-131 (I*). Trẻ em nhiễm phóng xạ idodine, tỷ lệ ung thư tuyến giáp trạng gia tăng rất cao khi trưởng thành.
• Thân quyến bị ung thư tuyến giáp trạng, loại medullary: Sự thay đổi, hay biến thái của di thể (gene) RET truyền từ cha mẹ đến con cái. Thử máu có thể tìm ra di thể RET đã biến thái. Khi tìm ra sự bất thường của di thể RET trong những bệnh nhân với ung thư tuyến giáp trạng, loại medullary, bác sĩ có thể đề nghị việc thử máu cho thân nhân của người bệnh hoặc có thể đề nghị việc cắt bỏ tuyến giáp trạng trước khi phát ung thư. Khi loại ung thư này tìm thấy ở nhiều người trong một gia đình, sách vở y học gọi là "familial medullary giáp trạng cancer" hoặc "multiple endocrine neoplasia (MEN) syndrome". Bệnh nhân với chứng MEN có thể bị một vài loại ung thư khác.
• Thân quyến bị bướu cổ (goiter) hoặc polyp tại ruột già: Tỷ lệ ung thư tuyến giáp trạng loại papillary gia tăng trong những người có thân quyến bị bướu cổ hoặc bị chứng polyps ở ruột già & trực tràng.
• Bị bướu cổ hay nổi khối u tại tuyến giáp trạng gia tăng tỷ lệ ung thư tuyến giáp trạng.
• Phái tính: Tại Hoa Kỳ, tỷ lệ ung thư tuyến giáp trạng ở phụ nữ cao gấp 2-3 lần phái nam
• Tuổi tác: Bệnh nhân với chứng ung thư tuyến giáp trạng thường ở tuổi 40 trở lên. Bệnh nhân với loại anaplastic thường ở tuổi 60 trở lên.
• Iodine & cách dinh dưỡng: Tuyến giáp trạng cần iodine để tạo nội tiết tố giáp trạng. Iodine có trong hải sản như tôm cua và muối iodized. Thiếu iodine trong thức ăn có thể gia tăng tỷ lệ ung thư tuyến giáp trạng, loại follicular; quá nhiều iodine có thể gia tỷ lệ ung thư tuyến giáp trạng loại papillary.
Triệu chứng
Ung thư tuyến giáp trạng thường không gây triệu chứng cho đến khi vào thời kỳ trầm trọng:
• Khối u trước cổ gần quả táo Adam (nếu là phái nam)
• Khản tiếng hoặc phát âm khó khăn
• Sưng tấy hạch bạch huyết, nhất là những hạch ở quanh cổ.
• Khó nuốt, khó thở
• Rát cổ họng
Ngoài ung thư tuyến giáp trạng, những triệu chứng kể trên có thể xuất hiện khi bị nhiễm trùng, bị bướu cổ hoặc những chứng bệnh khác. Nên đi khám bệnh để tìm nguyên nhân.
Chẩn bệnh
Khi có một hoặc nhiều triệu chứng kể trên, nên đi khám bệnh. Bác sĩ ghi nhận bệnh sử và thực hiện một hoặc nhiều loại thử nghiệm sau:
• Khám tổng quát: Bác sĩ sờ nắn vùng cổ, tuyến giáp trạng, hạch bạch huyết và soi thanh quản để tìm dấu hiệu của sự sưng trướng.
• Thử máu để thẩm định lượng thyroid-stimulating hormone (TSH), quá nhiều hay quá ít nội tiết tố này có nghĩa là tuyến giáp trạng không hoạt động bình thường. Khi bác sĩ truy tìm loại ung thư medullary, sẽ đo lượng calcium trong máu hoặc lượng calcitonin trong máu.
• Siêu âm: Dụng cụ này dùng sóng âm thanh để chụp hình thể của tuyến giáp trạng và tìm kiếm những khối u; nếu có, đo kích thước của những khối u và thẩm định xem những khối u này có chứa chất lỏng hay không. Khối u chứa chất lỏng thường là bướu lành, khối u đặc là bướu độc.
• Radionuclide scanning: Bệnh nhân uống dung dịch chứa chất phóng xạ, chất phóng xạ theo máu luân lưu khắp cơ thể. Những khối u "thấm" chất phóng xạ xuất hiện rõ trên màn hình. Khối u có ít chất phóng xạ hơn những tế bào chung quanh được gọi là khối u lạnh (cold nodule), những khối u lạnh có thể là bướu độc hay ung thư. Những khối u nóng (hot nodules) "thấm" nhiều chất phóng xạ hơn những tế bào chung quanh thường là những bướu lành.
• Sinh thiết: Làm sinh thiết là cách chẩn bệnh ung thư chính xác nhất. Bác sĩ làm sinh thiết bằng cách dùng kim hoặc dao mổ:
- Fine-needle aspiration: Bác sĩ dùng một kim nhỏ và hút tế bào từ tuyến giáp trạng để thử nghiệm. Đôi khi, siêu âm được sử dụng để định chỗ của khối u, giúp việc lấy tế bào dễ dàng hơn.
- Giải phẫu: Bác sĩ dùng dao mổ mở ra một vùng da ở cổ để lấy tế bào giáp trạng làm sinh thiết.
Quý vị có thể đặt những câu hỏi sau trước khi bác sĩ trích mô (làm sinh thiết):
-Trích mô ảnh hưởng đến việc chữa trị ra sao?
-Bác sĩ chọn phương thức nào để trích mô?
-Việc trích mô kéo dài bao nhiêu lâu? Tôi sẽ thức trong khi làm sinh thiết? Có đau đớn lắm không?
-Làm sinh thiết có rủi ro không? Có gây ra việc lan tràn ung thư không? Tôi có bị xuất huyết? Nhiễm trùng?
-Chừng nào thì tôi biết kết quả? Ai sẽ là người giải thích kết quả cho tôi hiểu?
-Nếu tôi bị ung thư, ai sẽ là người nói chuyện với tôi về những bước sắp tới? Và bao giờ?
Định kỳ ung thư
Sau khi chẩn bệnh, bác sĩ cần định kỳ ung thư trước khi hoạch định cách chữa trị. Định kỳ ung thư là việc đo kích thước khối u, thẩm định xem ung thư đã lan chưa, nếu đã lan tràn thì lan đến bộ phận nào.
Ung thư tuyến giáp trạng lan đến hạch bạch huyết, phổi và xương. Khi ung thư lan từ nơi xuất phát đến bộ phận khác, khối u mới có cùng loại tế bào như khối u khởi thủy. Thí dụ, nếu ung thư tuyến giáp trạng lan đến phổi, tế bào ung thư tại phổi là tế bào ung thư tuyến giáp trạng; đây là ung thư tuyến giáp trạng lan đến phổi, không phải ung thư phổi. Do đó, căn bệnh được chữa trị như ung thư tuyến giáp trạng. Bác sĩ gọi loại ung thư lan tràn là "metastatic disease" hay ung thư di căn.
Việc định kỳ có thể bao gồm một hoặc nhiều loại thử nghiệm: Bác sĩ có thể dùng siêu âm, MRI, CT để tìm xem ung thư đã lan đến hạch bạch huyết hoặc đã lan ra những nơi khác trong vùng cổ. Đôi khi, bác sĩ dùng những loại dụng cụ dùng chất phóng xạ để tìm ung thư, radionuclei scan, khắp thân thể gọi là "diagnostic I-131 whole body scan". Tế bào ung thư tuyến giáp trạng trong thân thể thu nhận chất phóng xạ này.
Chữa trị
Tùy theo loại ung thư, thời kỳ ung thư, kích thước khối u, tuổi tác và ung thư đã lan hay chưa, ung thư tuyến giáp trạng có thể được chữa trị bằng cách giải phẫu, Iodine chứa chất phóng xạ (radioactive iodine), nội tiết tố, ngoại quang tuyến (external radiation), hoặc hóa chất. Đôi khi một hoặc nhiều cách chữa trị được sử dụng cùng lúc.
Bác sĩ có thể giới thiệu quý vị đến một chuyên viên, hoặc quý vị có thể nhờ bác sĩ giới thiệu đến chuyên viên bác sĩ chuyên khoa về tuyến nội tiết, endocrinologist; bác sĩ chuyên khoa về việc chữa trị tuyến giáp trạng hay "thyroidologist". Những chuyên viên chữa trị ung thư bao gồm bác sĩ chuyên khoa chuyên khoa ung thư, bác sĩ xạ trị ung thư hoặc bao gồm cả chuyên viên điều dưỡng về ung thư và dinh dưỡng.
Giải phẫu và ngoại xạ trị là loại chữa trị tại chỗ, cắt bỏ hoặc diệt trừ ung thư. Khi ung thư đã lan xa, việc chữa trị "tại chỗ" có thể dùng để giảm triệu chứng.
Nội tiết tố giáp trạng, radioative iodine và hóa chất là những loại chữa trị toàn thân. Những chất này theo máu luân lưu khắp cơ thể, diệt trừ tế bào ung thư khắp nơi.
Trong bất cứ thời kỳ nào của ung thư, bác sĩ cũng có thể dùng những cách chữa phụ, giảm đau, giúp bệnh nhân dễ chịu gọi là supportive care.
Nên thảo luận với bác sĩ về phản ứng phụ và việc chữa trị sẽ ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày ra sao. Hóa chất và xạ trị thường gây hư hoại các tế bào bình thường nên phản ứng phụ thường xảy ra. Phản ứng phụ không đồng nhất cho mọi người, và có thể thay đổi từ lần chữa trị này sang lần chữa trị khác.
Trước khi bắt đầu bác sĩ sẽ giải thích rõ ràng về việc trị liệu và phản ứng phụ có thể xảy ra, và cách tiết giảm.
Trước khi chữa trị, bệnh nhân nên hỏi bác sĩ những câu hỏi sau:
 Chứng bệnh của tôi ở thời kỳ nào?
 Tôi bị loại ung thư nào?
 Làm thế nào để lấy bản sao của bản tường trình từ bác sĩ Bệnh Lý (pathologist)?
 Những cách chữa trị nào có thể dùng được? Bác sĩ đề nghị cách nào, lý do tại sao? Các cách chữa trị có thay đổi không?
 Tôi sẽ bị những biến chứng gì? Làm cách nào để giảm bớt những biến chứng này?
 Có biến chứng nào ảnh hưởng lâu dài hay không?
 Cách chữa trị có ảnh hưởng nhiều đến đời sống hằng ngày hay không?
 Có cuộc thử nghiệm lâm sàng nào cho chứng bệnh của tôi hay không?
 Tôi có cần đi khám bệnh định kỳ thường xuyên không?
Giải phẫu
Giải phẫu là phương cách thông thường nhất để chữa trị ung thư tuyến giáp trạng, bác sĩ có thể cắt bỏ một phần hoặc toàn thể tuyến giáp trạng tùy theo loại tế bào, thời kỳ ung thư, kích thước khối u và tuổi tác của bệnh nhân.
Có hai cách giải phẫu chính:
a. Cắt bỏ hoàn toàn tuyến giáp trạng (total thyroidectomy): Ngoài tuyến giáp trạng, bác sĩ cắt bỏ cả hạch bạch huyết ở cổ và đôi khi, cả những tế bào khác quanh tuyến giáp trạng. Khi tìm thấy tế bào ung thư tại hạch bạch huyết có nghĩa là ung thư đã lan ra những nơi khác trong thân thể. I-131 và ngoại quang tuyến có thể cũng được sử dụng trong việc chữa trị những bệnh nhân này.
b. Cắt bỏ một thùy (lobectomy) là cách để chữa trị một số bệnh nhân với loại ung thư papillary hoặc follicular. Bác sĩ có thể cắt bỏ những tế bào chung quanh hoặc cả hạch bạch huyết, I-131 và ngoại quang tuyến có thể cũng được sử dụng trong việc chữa trị những bệnh nhân này.
Hầu như mọi bệnh nhân sau khi giải phẫu đều cần uống (thuốc) nội tiết tố giáp trạng.
Nếu bác sĩ cắt bỏ cả tuyến cận giáp, bệnh nhân sẽ cần uống thêm calcium và sinh tố D suốt đời.
Đôi khi, giải phẫu gây hư hoại thần kinh hoặc bắp thịt và tạo ra việc thay đổi giọng nói hoặc vai cao vai thấp.
Trước khi giải phẫu, quý vị có thể đặt câu hỏi với bác sĩ:
-Bác sĩ sẽ thực hiện cách giải phẫu nào cho tôi?
-Có cần cắt bỏ hạch bạch huyết hay không? Tuyến cận giáp có phải cắt bỏ không? Tại sao?
-Nếu đau đớn, có thể dùng thuốc gì?
-Tôi sẽ ở lại bệnh viện bao nhiêu lâu?
-Tôi có bị phản ứng phụ lâu dài hay không? Nhiễm trùng, sưng trướng, chảy máu?
-Tôi có cần dùng nội tiết tố giáp trạng không? Nếu cần thì bao giờ bắt đầu? Tôi có cần dùng thuốc suốt đời không?
-Khi nào thì tôi có thể trở lại sinh hoạt bình thường?
Nội tiết tố giáp trạng
Sau khi giải phẫu và dùng I-131, bệnh nhân cần nội tiết tố giáp trạng để thay thế lượng nội tiết tố do cơ thể tạo ra. Tuy nhiên nội tiết tố cũng được dùng để chữa trị ung thư tuyến giáp trạng loại papillary hoặc follicular. Nội tiết tố khiến tế bào giáp trạng tăng trưởng chậm lại.
Nội tiết tố giáp trạng hiếm khi tạo phản ứng phụ. Bác sĩ sẽ thử máu thường xuyên để thẩm định lượng nội tiết tố hiện diện trong máu. Quá nhiều nội tiết tố giáp trạng sẽ gây xuống ký, gia tăng thân nhiệt và đổ mồ hôi, đôi khi đau lồng ngực, vọp bẻ ở bắp thịt và tiêu chảy, những triệu chứng này gọi chung là hyperthyroidism. Khi thiếu nội tiết tố giáp trạng, bệnh nhân sẽ lên ký, cảm thấy lạnh, khô da và khô tóc, những triệu chứng này gọi chung là hypothyroidism.
Hãy thảo luận với bác sĩ trước khi uống nội tiết tố giáp trạng:
- Tại sao tôi cần thuốc này?
- Thuốc này có công dụng gì?
- Tôi phải dùng thuốc bao nhiêu lâu?
Radioactive iodine (radioiodine therapy) Iodine chứa chất phóng xạ (I-131)
Iodine chứa chất phóng xạ (I-131) được dùng để chữa trị ung thư tuyến giáp trạng loại papillary hoặc follicular. Chất này huỷ diệt tế bào ung thư và tế bào giáp trạng bình thường còn sót lại sau khi giải phẫu. Loại thuốc này được dùng với một lượng nhỏ nên không tạo phản ứng phụ với những người bị dị ứng. I-131 thấm qua ruột non vào máu luân lưu khắp cơ thể rồi tích tụ lại ở những tế bào giáp trạng. Những tế bào giáp trạng ung thư khắp nơi trong cơ thể sẽ bị hủy diệt bởi I-131.
Khi lượng iodine thấp, bệnh nhân có thể uống thuốc tại nhà. Nếu cần dùng một lượng iodine cao, bệnh nhân sẽ ở bệnh viện trong những phòng cách ly để những người chung quanh không bị nhiễm chất phóng xạ. Lượng phóng xạ sẽ giảm khỏi cơ thể trong vài ngày và hoàn toàn ra khỏi cơ thể trong 3 tuần lễ.
Trong thời gian chữa trị, bệnh nhân có thể bảo vệ bàng quan bằng cách uống nhiều nước; uống nhiều nước giúp cơ thể đào thải I-131 dễ dàng.
Một vài bệnh nhân bị buồn nôn, ói mửa trong ngày đầu tiên; vài người bị sưng trướng tại tuyến giáp trạng. Khi ung thư lan xa, những vùng cơ thể nhiễm ung thư có thể đau đớn.
Bệnh nhân có thể bị khô miệng hoặc mất vị giác trong một thời gian ngắn sau khi dùng I-131, nhại kẹo cao su hoặc ngậm kẹo sẽ bớt khô miệng.
Nam bệnh nhân có thể bị hiếm muộn, phụ nữ cần ngừa thai một năm sau khi chữa trị.
Một số nhỏ bệnh nhân bị ung thư nhiều năm sau khi dùng I-131.
Một lượng lớn I-131 cũng diệt tế bào giáp trạng bình thường, sau khi chữa trị, bệnh nhân sẽ cần dùng nội tiết tố giáp trạng để bù cho việc cơ thể không còn tiết ra nội tiết tố giáp trạng nữa.
Quý vị có thể đặt câu hỏi với bác sĩ trước khi bắt đầu dùng I-131 để chữa trị:
-Tại sao tôi cần được chữa trị bằng loại thuốc này?
- Thuốc này có tác dụng gì?
-Tôi cần làm gì để tự chăm sóc trong khi chữa trị?
-Tôi có cần vào bệnh viện để chữa trị không? Nếu cần thì ở bệnh viện bao lâu?
- Làm thế nào để bảo vệ thân quyến tôi? và trong thời gian bao lâu?
-Tôi có cần làm gì để sửa soạn cho việc chữa trị không? Tôi có cần tránh các thức ăn uống chứa iodine không? Nếu cần thì tránh bao nhiêu lâu? Việc chữa trị ảnh hưởng đến sinh hoạt hằng ngày ra sao?
- Phản ứng phụ của I-131 là những gì? Tôi cần làm gì để giảm phản ứng phụ?
- Trong tương lai, tôi có dùng I-131 nữa không?
Ngoại xạ trị
Dùng tia quang tuyến cao độ để đốt tế bào ung thư. Ngoại quang tuyến được dùng tại nơi ung thư nên chỉ ảnh hưởng đến phần cơ thể đó. Ngoại quang tuyến được sử dụng sau khi dùng I-131 không có kết quả, thường chữa 5 ngày mỗi tuần trong nhiều tuần lễ.
Hầu hết bệnh nhân được chữa trị tại bệnh viện, mỗi lần chữa trị chỉ kéo dài vài phút. Phản ứng phụ thường tùy thuộc vào lượng phóng xạ sử dụng và nơi chữa trị. Xạ trị tại cổ thường gây khô, rát miệng và cổ họng, khản tiếng, khó nuốt; vùng da trên cổ bị nóng rát, tấy đỏ.
Nên thảo luận với bác sĩ về phản ứng phụ và việc chữa trị sẽ ảnh hưởng đến sinh hoạt hàng ngày ra sao. Trước khi bắt đầu bác sĩ sẽ giải thích rõ ràng về việc trị liệu và phản ứng phụ có thể xảy ra, và cách tiết giảm.
Quý vị có thể đặt câu hỏi với bác sĩ trước khi bắt đầu chữa trị:
- Mục đích của việc chữa trị là gì?
-Tôi cần báo cho bác sĩ biết về những phản ứng phụ nào?
- Có cách nào phòng ngừa không?
- Có phản ứng phụ lâu dài nào không?
- Khi nào thì bắt đầu? Bao lâu thì chữa trị xong?
-Tôi có cần làm gì để sửa soạn cho việc chữa trị không?
Hóa chất trị liệu
Bác sĩ dùng hóa chất để hủy hoại tế bào ung thư, thuốc theo máu luân lưu khắp cơ thể nên được xem là một loại chữa trị toàn thân (systemic), tại tuyến giáp trạng và khắp cơ thể. Đây là các chữa trị dùng cho ung thư loại anaplastic và giảm triệu chứng cho các loại ung thư khác.
Thuốc được chích vào mạch máu, theo máu luân lưu khắp cơ thể diệt trừ tế bào ung thư khắp nơi. Bệnh nhân có thể ở tại bệnh viện, trung tâm y tế văn phòng bác sĩ, hoặc tại nhà.
Việc chữa trị ung thư thường gây hư hoại cho những tế bào lành mạnh, nên thường có phản ứng phụ. Phản ứng phụ tùy thuộc vào loại và lượng thuốc sử dụng. Hóa chất thường ảnh hưởng đến những tế bào tăng trưởng nhanh chóng như tế bào lót màng nhày trong miệng. Phản ứng phụ thường thấy nhất là buồn nôn, ói mửa, lở miệng, biếng ăn và rụng tóc. Các phản ứng phụ này sẽ thuyên giảm và châm dứt sau khi hoàn tất việc chữa trị.
Trước khi chữa trị qúy vị nên đặt câu hỏi với bác sĩ:
- Mục đích của việc chữa trị là gì?
-Tôi cần báo cho bác sĩ biết về những phản ứng phụ nào?
-Có cách nào phòng ngừa không?
- Có phản ứng phụ lâu dài nào không?
Ý kiến thứ nhì
Trước khi bắt đầu việc chữa trị, quý vị có thể tham khảo một bác sĩ khác để lấy ý kiến về chẩn đoán và chữa trị. Nhiều hãng bảo hiểm sẽ trả chi phí này nếu quý vị hoặc bác sĩ yêu cầu.
Quý vị cần một thời gian để thu góp tài liệu, y sử, các kết quả thử nghiệm và sắp xếp buổi tham khảo với một bác sĩ khác. Việc chờ đợi thường không ảnh hưởng đến kết quả của việc chữa trị. Để an tâm hơn, quý vị có thể thảo luận về việc chờ đợi này với bác sĩ của mình.
Nhiều cách để tìm một bác sĩ cho ý kiến thứ nhì: Hỏi bác sĩ của mình, hỏi chi tiết tại bệnh viện, những tổ chức y tế địa phương, trường Y khoa… để lấy tên một vị bác sĩ chuyên khoa.
Khám bệnh định kỳ
Bệnh nhân cần gặp bác sĩ để khám bệnh theo định kỳ. Ngay cả khi không có dấu hiệu nào về ung thư tái phát, vẫn cần thăm bệnh vì mầm ung thư có thể còn sót lại trong cơ thể. Báo cho bác sĩ biết nếu bị bệnh giữa những buổi khám bệnh định kỳ. Ngoài ra, việc theo dõi lượng nội tiết tố giáp trạng rất quan trọng, bác sĩ sẽ đo mực thyroglobulin trong máu (nội tiết tố giáp trạng được dự trữ trong tuyến giáp trạng dưới hình thái thyroglobulin). Khi tuyến giáp trạng bị cắt bỏ, lượng thyroglobulin sẽ rất thấp hoặc không có trong máu. Khi tìm thấy một lượng thyroglobulin cao, có nghĩa là ung thư đã tái phát.
Khoảng 6 tuần lễ trước khi đo lượng thyroglobulin, bệnh nhân phải ngừng uống nội tiết tố giáp trạng và dùng một loại nội tiết tố có hiệu lực ngắn hạn. Tuy nhiên, bệnh nhân cần ngưng tất cả mọi loại nội tiết tố giáp trạng khoảng một tuần lễ trước khi đo thyroglobulin. Việc này bệnh nhân rất mệt mỏi, lên ký. Sau khi thử máu, bệnh nhân sẽ tiếp tục uống nội tiết tố giáp trạng để duy trì cơ thể.
Bác sĩ có thể dùng TSH chích vào cơ thể. Nếu có tế bào giáp trạng còn sót lại, các tế bào này sẽ tạo ra thyroglobulin và lượng thyroglobulin sẽ lên cao trong máu. Bệnh nhân dùng TSH sẽ không cần ngưng uống nội tiết tố giáp trạng.
Bệnh nhân được chữa trị chứng medullary sẽ cần thử nghiệm mức calcitonin và các chất khác trong máu.
Ngoài việc thử máu, việc khám bệnh có thể bao gồm:
- Siêu âm tại cổ để tìm dấu vết ung thư
- Scan toàn thân, bệnh nhân ngưng dùng nội tiết tố giáp trạng trong nhiều tuần lễ hoặc dùng TSH. Bệnh nhân cần ngưng ăn tôm cua (chứa nhiều iodine) trong 1-2 tuần lễ trước khi scan. Bác sĩ chích một lượng nhỏ chất phóng xạ, tế bào ung thư sẽ thu nhận chất phóng xạ, và scan sẽ nhận ra những nơi có tế bào ung thư.
- PET scan: Bác sĩ chích một lượng nhỏ đường phóng xạ, tế bào ung thư dùng đường phóng xạ nhiều hơn tế bào bình thường, và scan sẽ nhận ra những nơi có tế bào ung thư.
- CT scan và MRI
Dinh dưỡng
Dinh dưỡng rất quan trọng trong mọi giai đoạn, trước khi, trong khi và sau khi chữa trị ung thư. Bệnh nhân cần một lượng đầy đủ calorie, protein, sinh tố, và khoáng chất. Khi cơ thể được bồi bổ đúng mức, bệnh nhân thường cảm thấy dễ chịu hơn.
Tuy nhiên, bệnh nhân có thể gặp khó khăn trong việc ăn uống vì nhiều nguyên nhân, mệt mỏi, biếng ăn hoặc khó nuốt thức ăn. Khi dùng hóa chất trị liệu, bệnh nhân có thể không còn nếm được thức ăn, hoặc cho rằng thức ăn không còn hương vị, thơm ngon như trước. Bệnh nhân cũng có thể chịu các phản ứng phụ như biếng ăn, buồn nôn, ói mửa, hoặc tiêu chảy.
Có nhiều cách để bồi bổ cơ thể khi không thể ăn uống đầy đủ. Hãy thảo luận với chuyên viên về dinh dưỡng (registered dietitian) để chọn cách dinh dưỡng thích hợp với đầy đủ calorie, protein, sinh tố (vitamins), và khoáng chất (minerals).
Khi có thể, nên duy trì sự hoạt động, đi bộ, yoga, bơi lội hoặc những hoạt động khác có thể gia tăng năng lực. Nên thảo luận với bác sĩ về việc vận động cơ thể và báo cho bác sĩ biết khi việc vận động gây đau đớn.
Những nguồn trợ giúp
Chứng bệnh nan y như ung thư có thể thay đổi cuộc sống của người bệnh và cả thân nhân. Những thay đổi này khó thích nghi và chấp nhận, nên điều dễ hiểu là bệnh nhân cũng như những người thân yêu thường trải qua những giai đoạn khó khăn, phân vân, bất an, buồn rầu.
Người bệnh có thể lo âu về gia đình, công việc làm, hoặc sinh hoạt hàng ngày kể cả việc chịu đựng và thích nghi với việc trị bệnh, những chuyến ra vào bệnh viện, phản ứng phụ và những phí tổn trị liệu.
Sống với căn bệnh nan y, người bệnh thường sợ hãi, tự trách, giận dữ hoặc buồn rầu. Những cảm tính này sẽ khiến đời sống nặng nề buồn thảm hơn. Bệnh nhân có thể tìm những nguồn trợ giúp chia sẻ qua bạn hữu, thân nhân, chuyên viên tâm lý hoặc cả những bệnh nhân khác.
Nguồn trợ giúp có thể bao gồm:
Bác sĩ, y tá, những chuyên viên trong nhóm trị liệu có thể trả lời hầu hết những câu hỏi liên quan đến bệnh trạng. Chuyên viên xã hội, chuyên viên tâm lý hoặc những vị lãnh đạo tôn giáo có thể giúp đỡ phần tinh thần. Chuyên viên xã hội có thể giới thiệu hoặc chỉ dẫn những nguồn tài trợ, việc chuyên chở, trị liệu tại nhà…
Những nhóm trợ giúp: bệnh nhân và người thân gặp gỡ các bệnh nhân khác và thân quyến họ để chia sẻ và trao đổi kinh nghiệm về căn bệnh và việc chữa trị. Những nhóm trợ giúp này có thể gặp gỡ qua sự họp mặt, điện thoại, hoặc qua internet.
Các chuyên viên tại 1-8-4-CANCER (điện thoại miễn phí trên lãnh thổ Hoa Kỳ) có thể giúp bệnh nhân tìm những chương trình trợ giúp, dịch vụ và các tin tức, tài liệu liên quan đến ung thư.
Sự hứa hẹn của ngành khảo cứu ung thư
Bác sĩ tại Hoa Kỳ đang thực hiện nhiều cuộc thử nghiệm lâm sàng. Thử nghiệm lâm sàng được hoạch định với mục đích trả lời các câu hỏi quan trọng về cách trị liệu hữu hiệu nhất.
Các chương trình nghiên cứu để chữa trị bao gồm cách dùng chung nhiều loại hóa chất, dùng chung hóa chất với sinh hóa tố và các cách chữa trị khác.
Những tìm hiểu khoa học đã tạo được nhiều lợi ích, giúp con người sống lâu hơn, và khoa học tiếp tục tìm kiếm. Các chuyên gia đang tìm kiếm phương pháp ngăn ngừa ung thư, cách tìm ra bệnh sớm hơn, cũng như cách trị liệu hiệu quả hơn.
Trang nhà của viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ có phần tin tức về thử nghiệm lâm sàng: h*tp://www.cancer.gov/clinicaltrials. Tại đây ngoài các tin tức về thử nghiệm còn có những chi tiết về các cuộc thử nghiệm lâm sàng về ung thư.
Nguồn tài liệu, tin tức từ viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ. Quý vị có thể lấy tin tức cho chính mình, thân nhân hoặc bác sĩ của mình.
Điện thoại (miễn phí trên lãnh thổ Hoa Kỳ): 1-800-4-CANCER (1-800-422-6237).
Điện thoại dành cho những người lãng tai: 1-800-332-8615
Trang nhà của viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ cung cấp tin tức về cách ngăn ngừa ung thư, truy tìm, chẩn đoán, chữa trị, di tính học, thử nghiệm lâm sàng. Ngoài ra còn có những dữ kiện về các chương trình khảo cứu, chương trình tài trợ và cả thống kê về ung thư.
Trang nhà: h*tp://cancer.gov
Nếu quý vị cần thêm chi tiết hoặc các dữ kiện khác, hãy dùng “online contact form” tại: h*tp://www.cancer.gov/contact hoặc gửi điện thư về: cancergovstaff@mail.nih.*** (thay thế *** bằng “gov”)
Tài liệu
Viện Ung Thư Quốc Gia Hoa Kỳ cung cấp những tài liệu (ấn bản, tạp chí) về ung thư, những tài liệu này bằng tiếng Anh và Tây Ban Nha.
Quý vị có thể đặt mua (ấn phí tối thiểu) qua điện thoại, trên trang mạng hoặc bằng thư từ, hoặc vào trang nhà kể trên, và tự in phụ bản cho mình. Thư từ gửi về:
Publications Ordering Service
National Cancer Institute
Suite 3035A
6116 Executive Boulevard, MSC 8322
Bethesda, MD 20892-8322
Chữa trị ung thư (Cancer Treatment)
- Hóa chất trị liệu và quý vị (Chemotherapy and You)
- Xạ trị và quý vị (Radiation Therapy and You)
- Làm thế nào để tìm một bác sĩ hoặc nơi trị liệu nếu quý vị bị ung thư (How To Find a Doctor or Treatment Facility If You Have Cancer)
- Câu hỏi và câu trả lời về targeted therapy (Targeted Cancer Therapies: Questions and Answers)
- Câu hỏi và câu trả lời về cách trị liệu ung thư bằng ánh sáng (Photodynamic Therapy for Cancer: Questions and Answers)
Sống với ung thư (Living With Cancer)
- Cách ăn uống dành cho người bị ung thư (Eating Hints for Cancer Patients)
- Giảm đau đớn (Pain Control)
- Thích ứng với ung thư thời kỳ sau cùng (Coping With Advanced Cancer)
- Những ngày sắp tới: Đời sống sau khi chữa trị ung thư (Facing Forward Series: Life After Cancer Treatment)
- Những ngày sắp tới: Những cách tạo sự thay đổi cho ung thư (Facing Forward Series: Ways You cần Make a Difference in Cancer)
- Dành thời giờ: Giúp đỡ những người bị ung thư (Taking Time: Support for People with Cancer)
Khi ung thư tái phát (When Cancer Returns)
- Những tổ chức cung cấp dịch vụ giúp những người bị ung thư và thân nhân họ (National Organizations That Offer Services to People With Cancer and Their Families)
Thử nghiệm lâm sàng (Clinical Trials)
- Tham dự thử nghiệm lâm sàng (Taking Part in Cancer Treatment Research Studies)
- Những yếu tố nguy hại (Risk Factors)
Người chăm sóc bệnh nhân (Caregivers)
- Khi người thân yêu được chữa trị bệnh ung thư: hỗ trợ người chăm sóc (When Someone You Love Is Being Treated for Cancer: Support for Caregivers)
- Khi người thân yêu bị ung thư ở giai đoạn cuối: Hỗ trợ người chăm sóc (When Someone You Love Has Advanced Cancer: Support for Caregivers)
- Những ngày sắp tới: Khi cuộc chữa trị ung thư của người thân chấm dứt (Facing Forward: When Someone You Love Has Completed Cancer Treatment)
* NIH tài liệu 07-4994, tháng Mười, 2007
Read more…

Bệnh ung thư tuyến giáp và những điều cần biết



Ung thư tuyến giáp
Ung thư tuyến giáp là bệnh ung thư phổ biến nhất của các tuyến nội tiết, chiếm khoảng 1% các loại ung thư. Có tỷ lệ mắc 0,5-1/100.000 dân, ở Mỹ tỷ lệ mắc 1,4/100.000; ở Đức 2,7/100.000 dân; ở Anh riêng nữ giới chiếm 2,3/100.000 dân. Năm 2003, ở Mỹ có 22.000 người mắc chiếm 1,61%, thông thường ung thư tuyến giáp ở nữ mắc cao hơn nam 2-3 lần.
Nguyên nhân

Ngày nay những tiến bộ về sinh học phân tử gần đây đã làm sáng tỏ nhiều cơ chế nguyên nhân của bệnh. Người ta cho rằng có sự sắp xếp lại các tyrosine kinase domains của gen RET và TRK. Sự sắp xếp lại trật tự RET gặp trong 5-33% ung thư thể nhú và không có liên quan tới chiếu xạ và 60-80% ở những người có tiền sử chiếu xạ vùng đầu cổ giai đoạn niên thiếu.

Ngoài ra còn một số phối hợp xảy ra khác nhưng tỷ lệ ít hơn như: rối loạn sản sinh nội tiết tố.

Hội chứng Pendred (bướu cổ và điếc thần kinh)-Chiếu xạ liều thấp tuyến giáp ở tuổi thiếu niên có thể gây tăng nguy cơ ung thư tuyến giáp thể
Phân loại ung thư tuyến giáp
Ung thư thể nhú (Papillary thyroid cancer – PTC): Là thể bệnh thường gặp nhất chiếm 70% – 90% các loại ung thư tuyến giáp biệt hóa. Phần lớn bệnh xuất hiện ở trước tuổi 40, bệnh nhân nữ chiếm tỷ lệ nhiều hơn nam.
Ung thư thể nang (Follicular thyroid cancer FTC): Ung thư thể nang thường gặp ở bệnh nhân sống ở vùng thường xuyên thiếu hụt Iod. Chẩn đoán khó khăn vì u nang lành và u nang ác tính thường giống nhau về hình thái. Thường là dựa vào hình ảnh xâm lấn vào u mô thần kinh và các mô lân cận. Tuổi thường gặp lớn hơn 40 tuổi và có xu hướng di căn theo đường máu đến xương, phổi và thần kinh. Tiên lượng nặng hơn K thể nhú.
Ung thư tế bào Hurthle: Thường giống như ung thư thể nang – u tế bào Hurthle có 2 loại: u lành và u ác. Xét nghiệm giải phẫu bệnh cho thấy u tế bào Hurthle có kích thước to hơn tế bào nang. K tế bào Hurthle thường gặp ở người lớn tuổi trên 50 tuổi, ít di căn hạch thường, di căn xương và phổi.
K giáp không biệt hóa: K giáp thể tủy (Medullary thyroid cancer – UTC) thường chiếm 5-10% trong ung thư tuyến giáp. Biểu hiện khối u ở cổ hoặc ở tuyến giáp thường phối hợp với các bệnh lý bạch huyết. Bệnh thường liên quan tới gia đình, những người bị tân sinh đa nội tiết. Xét nghiệm thường cho kết quả calcitonin tăng cao. Lâm sàng bệnh nhân thường xuất hiện đau đầu, đi lỏng, bệnh tiến triển chậm, tiên lượng nặng. Nên xét nghiệm Calcitonin những thành viên trong gia đình nếu có điều kiện, kiểm tra đột biến RET bằng kiểm định DNA là tốt nhất.

Điều trị tốt nhất là cắt bỏ triệt để nếu có di căn kết hợp hoá trị liệu. Điều trị hỗ trợ DCPX 131I không có hiệu quả.

Ung thư thể tủy thường gặp nhiều ổ (multifocal) xâm lấn bên trong tuyến giáp.

Ung thư bất định sản: Về mô học, ung thư gồm 2 loại tế bào nhỏ và tế bào khổng lồ. Loại tế bào khổng lồ là loại ung thư ác tính nhất, 50% bệnh nhân có thể tử vong trong thời gian 6-12 tháng ung thư xâm nhập rất mạnh và di căn sớm thường gặp ở bệnh nhân trên 60 tuổi.
Biểu hiện lâm sàng

Ung thư tuyến giáp thường tiến triển âm thầm, nhất là ung thư tuyến giáp thể nhú. Đối với những người xuất hiện u tuyến giáp thể nhân (đơn nhân hoặc đa nhân). Biểu hiện tuyến giáp to, xuất hiện một nhân hoặc nhiều nhân cứng, bờ gồ ghề di động theo nhịp nuốt, nếu khối u to có thể chèn ép gây khàn tiếng, khó thở, khó nuốt. Những trường hợp xuất hiện như vậy, người bệnh đến cơ sở chuyên khoa khám và xét nghiệm tế bào để chẩn đoán xác định.

- Hạch: thường xuất hiện hạch cùng bên, vùng cảnh thấp, thượng đòn hoặc hạch góc hàm, cổ đối bên. Tuy nhiên nếu xuất hiện các biểu hiện như vậy trên lâm sàng là đã ở giai đoạn muộn của bệnh. Vì thế người bệnh và thầy thuốc cần lưu ý một số yếu tố liên quan đến bệnh nhân xuất hiện u tuyến giáp như sau:

- Bướu giáp to xuất hiện nhân cứng chắc.

Chẩn đoán hình ảnh:

- Xquang

- Xạ hình. Ung thư tuyến giáp ít bắt Iod phóng xạ nên có giá trị chẩn đoán ung thư tuyến giáp giai đoạn di căn hạch.

- Siêu âm: giúp xác định u nang hoặc nhân đặc.

Chẩn đoán sinh hóa:

Định lượng Calcitonia (do tế bào C hoặc tế bào cận giáp tiết ra) thường xuất hiện tăng cao trong trường hợp ung thư thể tủy.

Định lượng FT3, FT4, TSH, Tg, AntiTg để chẩn đoán phân biệt Basedow và đánh giá tiên lượng di căn.
Các phương pháp điều trị

Đối với điều trị K giáp căn cứ vào từng loại bệnh, thể bệnh và giai đoạn bệnh để có biện pháp điều trị cụ thể.

- Phẫu thuật được chỉ định có tính quyết định trong điều trị ung thư tuyến giáp thể biệt hóa. Có nhiều phương pháp phẫu thuật khác nhau được áp dụng, tùy theo kích thước, vị trí tình trạng di căn của khối u. Có thể chỉ định cắt thùy tuyến giáp, cắt toàn bộ tuyến giáp, vét hạch di căn, …

- Điều trị hormon chỉ định đối với ung thư tuyến giáp thể biệt hoá.

- Điều trị tia xạ: Áp dụng 131I sau khi phẫu thuật (RAI- Radioactive iodine) hoặc điều trị tia xạ ngoài, khi độ tập trung Iod tuyến giáp thấp. Doxuribixin (adriamgxin), Cisplatin Etoposide.

Nếu điều trị kịp thời, bệnh nhân K giáp thể nhú thường sống sau 5 năm chiếm 80-90%; Thể nang sống sau 5 năm chiếm 50-70%; Thể tủy sống sau 5 năm chiếm 40%; Thể không biệt hóa sống sau 5 năm là dưới 50%;

Theo dõi:

Thường xuyên 3-6 tháng người bệnh bị ung thư tuyến giáp, nên khám bệnh, theo dõi tại cơ sở chuyên khoa (chỉ định Xquang, xạ hình phát hiện di căn, định lượng hormon tuyến giáp), để có biện pháp theo dõi điều trị kịp thời. Hy vọng rằng người bệnh bị ung thư tuyến giáp sẽ cải thiện chất lượng cuộc sống và kéo dài cuộc sống. Hiện tại số bệnh nhân điều trị ung thư tuyến giáp tại Viện Y học phóng xạ & U bướu quân đội kéo dài từ 5-10 năm số lượng đã lên tới vài chục bệnh nhân và họ thường xuyên được chăm sóc theo dõi định kỳ, sức khỏe rất ổn định.
Read more…

Ung Thư Tuyến Giáp

I. Đại cương:
Theo hiệp hội quốc tế chống ung thư (Inernational Union against Cancer: IUAC) thì Ung thư tuyến giáp chiếm khoảng 1% các loại Ung thư. Tại các nước có bệnh Bướu cổ địa phương tỉ lệ này thường lớn hơn. Tần suất mắc bệnh chuẩn theo tuổi ở Nam là 3/100 000 dân/năm, trong khi ở nữ cao gấp 2-3 lần tỉ lệ đó. Theo số liệu của Bệnh viện K Hà nội, Ung thư tuyến giáp chiếm khoảng 2% tổng số các Ung thư, trong đó tỉ lệ mắc bệnh chuẩn theo tuổi là 0,3/100 000 dân/năm.
Phần lớn Ung thư tuyến giáp tiến triển âm thầm, triệu chứng lâm sàng ngèo nàn, giai đoạn ẩn bệnh kéo dài. Bệnh nhân có thể sống 15-20 năm. Vì vậy, có thể nói rằng tiên lượng của đa số bệnh nhân Ung thư tuyến giáp là tốt nếu được chẩn đoán và điều trị sớm và tích cực.
II. Nguyên nhân và bệnh sinh:
Còn nhiều điểm chưa rõ ràng nhưng các yếu tố có liên quan đến xuất hiện bệnh là:
+ Tuổi: có thể gặp Ung thư tuyến giáp ở mọi lứa tuổi, nhưng hay gặp ở lứa tuổi 7-20 và 40-65.
+ Giới: Nữ giới mắc bệnh nhiều hơn Nam giới 2-3 lần.
+ Nơi sinh sống:
- Tại những khu vực có bệnh Bướu cổ địa phương thì tỉ lệ mắc bệnh Ung thư tuyến giáp cao hơn các khu vực khác.
- Bệnh nhân ở gần biển(ăn uống có đủ Iot) khi có Bướu giáp thể nhân thì nguy cơ bướu là ác tính cao hơn các vùng khác.
- Tại những khu vực bị nhiễm xạ thì tỉ lệ mắc Ung thư tuyến giáp cao hơn các vùng khác.
+ Tiền sử đã có dùng tia xạ điều trị các bệnh lành tính khác ở vùng đầu mặt cổ thì khi có Bướu giáp nhân sẽ có nguy cơ cao bị ác tính.
+ Di truyền: Ung thư tuyến giáp thể tuỷ thường có tính chất gia đình. Đặc biệt, loại đa ung thư nội tiết tip II ( MEN II: Multiple endocrine neoplasia type II) có Ung thư tuyến giáp thể tuỷ kèm U tuỷ thượng thận và có thể có U ở các tuyến nữa... đã được xác định là có tính di truyền.
III. Giải phẫu bệnh:
Theo tổ chức y tế thế giới, dựa vào mô bệnh học có thể phân chia Ung thư tuyến giáp ra 5 loại:
1. Ung thư biểu mô thể nhú:
Chiếm khoảng 60-70% các Ung thư tuyến giáp.
+ Đại thể: u thường là một khối đơn độc.
+ Vi thể: hình ảnh chiếm ưu thế là cấu trúc dạng nhú với lưới nội mô liên kết và mao mạch nâng đỡ. Đôi khi cũng thấy cấu trúc túi tuyến chiếm ưu thế.
2. Ung thư biểu mô thể nang:
+ Đại thể: có thể ở dạng một khối u nhỏ có vỏ bọc hoặc một khối u xâm lấn mạnh chiếm toàn bộ một thuỳ làm cho tuyến giáp to lên không đều.
+ Vi thể: có cấu trúc giống như trong nang tuyến đang hình thanh hay đã trưởng thành, nhưng có thể thấy các tế bào Hĩrthle hoặc các tế bào sáng ở từng vùng hay khắp khối u. Nếu u được cấu tạo hoàn toàn bởi các tế bào Hĩrthle hoặc tế bào sáng thì được coi là một biến thể đặc hiệu của thể này, đó là ung thư biểu mô tế bào Hĩrthle hoặc tế bào sáng. Có thể biệt hoá rõ hoặc loại biệt hoá Vita (còn gọi là Ung thư biểu mô bè).
3. Ung thư biểu mô thể tuỷ: phát sinh từ tế bào C của tuyến giáp.
+ Đại thể: có thể có một hoặc nhiều u ở cả hai thuỳ. U mềm hoặc có khi khá chắc, màu trắng xám hoặc vàng nâu. Có khi U bị hoại tử chảy máu và phá vỡ bao tuyến.
+ Vi thể: U cấu tạo bởi những tế bào tròn đa diện hoặc hình thoi, thường chứa chất dạng tinh bộ. Cấu trúc và chức năng của các tế bào u giống với tế bào C.
4. Ung thư biểu mô không biệt hoá:
+ Đại thể: thường là một khối u lớn ở vùng cổ vì bệnh tiến triển rất nhanh.
+ Vi thể: có 3 loại theo hình thái tế bào trong u, đó là loại u tế bào hình thoi, u tế bào khổng lồ và u tế bào nhỏ.
5. Ung thư dạng biểu bì:
Vi thể thấy trong cấu trúc u có các cầu sừng, các cầu nối hoặc chỉ có Keratin.
IV. Triệu chứng lâm sàng:
1. Đặc điểm chung:
Đại đa số ung thư tuyến giáp đều tiến triển âm thầm, chậm chạp và kéo dài nên bệnh nhân thường không nhận thấy được ngay những thay đổi của toàn thân, vẫn lao động và sinh hoạt bình thường. Cho đến khi xuất hiện những rối loạn tại chỗ do u chèn ép, xâm lấn(gây khó thở và không ăn uống được), khối u hoại tử, bội nhiễm và loét thì tình trạng toàn thân mới sa sút nặng.
2. Các triệu chứng sớm:
+ Khối U: thường do bệnh nhân hay người nhà tình cờ phát hiện ra. U to ra dần, di động theo nhịp nuốt, có thể nằm ở bất cứ vị trí nào của tuyến giáp. Thường chỉ có một nhân đơn độc nhưng cũng có khi có nhiều nhân và nằm ở cả hai thuỳ tuyến giáp. Mật độ thường chắc. Bề mặt thường gồ ghề.
+ Hạch cổ: có khi U chưa sờ thấy được nhưng đã có hạch cổ to. Tuy nhiên, những triệu chứng sớm này khó phân biệt với một bướu lành tính, do đó khi có hạch cổ kèm theo khối U với những tính chất như trên thì luôn phải cảnh giác và tìm các biện pháp chẩn đoán xác định Ung thư sớm.
3. Các triệu chứng muộn:
+ Khối U: có khi khá lớn, lấn ra phía trước, ra sau, lên hai cực trên sát hai góc hàm và xuống dưới vào trong trung thất (khám lâm sàng không sờ thấy được cực dưới của U). Bề mặt thường gồ ghề, mật độ có chỗ cứng chắc có chỗ mềm. Đặc biệt, khối U dính chặt và xâm lấn vào các cơ quan vùng cổ nên ranh giới không rõ và khả năng di động kém. Có khi khối U xâm nhiễm và loét sùi qua da vùng cổ, gây chảy máu và bội nhiễm tại chỗ.
+ Khàn tiếng, khó thở, khó nuốt, nuốt nghẹn. . . ở các mức độ khác nhau do khối U phát triển xâm lấn và chèn ép các cơ quan xung quanh. Các triệu chứng này gặp với tỉ lệ cao và sớm, nhất là ở Ung thư thể không biệt hoá.
+ Cảm giác vướng tức, bó chặt ở vùng cổ: là triệu chứng thường gặp. Có khi cảm giác đau tức tại U lan lên góc hàm, mang tai cùng bên do U chèn ép và kích thích đám rối thần kinh cổ.
+ Hạch to ở vùng cổ (dọc hai bên khí quản, theo các bờ trong, ngoài và sau hai cơ ức đòn chũm, góc hàm, hố thượng đòn. . . ).
V. Triệu chứng cận lâm sàng:
1. Chụp X. quang:
+ Thường chụp X. quang vùng cổ 2 tư thế (thẳng và nghiêng)không chuẩn bị hoặc có uống cản quang thực quản.
+ Xác định được hình ảnh khối U chèn ép khí quản và thực quản, hình khối U phát triển vào trung thất hoặc có di căn vào phổi (nếu có).
2. Chụp xạ hình tuyến giáp:
+ Thường dùng I131 phóng xạ để chụp tuyến giáp. Hiện nay nhiều nơi còn dùng những kháng thể đơn dòng có gắn đồng vị phóng xạ để chụp xạ hình tuyến giáp nhằm phát hiện Ung thư tuyến giáp và các ổ di căn nhỏ.
+ Trên xạ hình đồ các khối Ung thư tuyến giáp thường có hình “nhân lạnh”. Tuy nhiên hình ảnh này không đặc hiệu cho Ung thư vì các nhân nang tuyến giáp cũng có hình nhân lạnh (có thể kết hợp với chụp Siêu âm để chẩn đoán phân biệt).
3. Siêu âm tuyến giáp:
+ Siêu âm thường được tiến hành sau khi đã khám lâm sàng và chụp xạ hình tuyến giáp.
+ Xác định được U là đặc hay Nang, đo được kích thước, thể tích và trọng lượng của U và tuyến giáp.
4. Chụp cắt lớp vi tính (CT) và chụp cộng hưởng từ (MRI):
+ Xác định được vị trí, hình dạng, kích thước...của khối Ung thư tuyến giáp.
+ Xác định được mức độ chèn đẩy, xâm lấn, tương quan giải phẫu... của khối Ung thư với các cơ quan xung quanh như: khí quản, thực quản, các mạch máu...
5. Chẩn đoán tế bào học:
+ Chẩn đoán tế bào học khối U bằng sinh thiết hút kim nhỏ là một phương pháp chẩn đoán đơn giản, nhanh chóng, rẻ tiền. Với một xét nghiệm viên có kinh nghiệm thì độ chính xác của chẩn đoán có thể đạt tới 90 %.
+ Có thể chọc hút cả khối U và Hạch cổ, chọc nhiều vị trí và chọc nhiều lần để chẩn đoán chính xác hơn.
6. Xét nghiệm giải phẫu bệnh lý:
Đây là xét nghiệm cho giá trị chẩn đoán quyết định Ung thư tuýên giáp cả về bệnh lý và các type mô bệnh học. Tuy nhiên chỉ làm được sau khi đã mổ cắt hoặc sinh thiết khối U.
7. Xét nghiệm tìm chất đánh dấu khối U (Tumour marker):
Các “chất đánh dấu khối U” là các chất đặc biệt do các khối U tiết ra mà bình thường không có trong cơ thể. Khi phát hiện thấy có các chất đó trong máu thì chứng tỏ các khối U đó đang có mặt trong cơ thể.
Trong Ung thư tuyến giáp có thể phát hiện thấy các chất đánh dấu khối U như: HTG (Human Thyroglobulin), CEA (Carcino Embrionic Antigen)...
VI. Chẩn đoán:
1. Chẩn đoán xác định: cần dựa vào
+ Nguyên nhân sinh bệnh: có các yếu tố nguy cơ mắc bệnh cao (tuổi, giới, nơi ở, tiền sử. . . ).
+ Tính chất U và những rối loạn cục bộ do U gây ra: U rắn chắc, xâm nhiễm mạnh các cơ quan xung quanh, di động kém, nói khàn, đau tức lan lên vùng góc hàm cùng bên, loét da. . .
+ Kết quả chẩn đoán tế bào học và đặc biệt là xét nghiệm mô bệnh học khối U sau mổ cho giá trị chẩn đoán quyết định.
2. Chẩn đoán phân biệt:
+ Các viêm tuyến giáp không đặc hiệu (Hashimoto, Riedel. . . ): thường xác định được bằng chẩn đoán tế bào học (sinh thiết hút kim nhỏ) và mô học sau mổ.
+ Bướu giáp thể nang biến chứng chảy máu trong nang: bướu giáp to ra nhanh, chắc cứng, đau và các biểu hiện chèn ép các cơ quan vùng cổ. Chọc hút khối U thấy có máu, không thấy tế bào Ung thư.
+ Viêm tuyến giáp đặc hiệu và Apxe tuyến giáp: tuyến giáp hay Bướu giáp to ra nhanh, đau, nóng, đỏ. Chọc hút sinh thiết không thấy có tế bào Ung thư mà là các tế bào viêm mủ. Điều trị kháng sinh có hiệu quả.
3. Chẩn đoán giai đoạn bệnh:
Theo Hiệp hội quốc tế chống ung thư (1994) có thể phân loại Ung thư tuyến giáp dựa theo T (Tumor), N (Node) và M (Metastasis) như sau:
+T: U tuyến giáp nguyên phát
- Tx : U nguyên phát không ghi nhận được.
- T0 : không có U nguyên phát.
- T1: U có đường kính < 1 cm, còn nằm trong giới hạn tuyến giáp.
- T2: U có đường kính 1-4 cm, còn nằm trong giới hạn tuyến giáp.
- T3: U có đường kính > 4 cm nhưng vẫn còn nằm trong giới hạn tuyến giáp.
- T4: U có đường kính bất kỳ nhưng đã xâm lấn ra ngoài vỏ bao tuyến giáp.
+ N: Hạch to vùng cổ
- Nx: hạch vùng cổ không khám thấy.
- N0: không có hạch di căn vùng cổ.
- N1: di căn một hạch cùng bên, kích thước < 3 cm.
- N2: hạch di căn có kích thước 3-6 cm.
. N2a: di căn một hạch cùng bên.
. N2b: di căn nhiều hạch cùng bên.
. N2c: di căn hạch hai bên hoặc bên đối diện.
- N3: hạch di căn có kích thước > 6 cm.
+ M: Di căn xa
- Mx: di căn không phát hiện thấy.
- M0: không có di căn.
- M1: có di căn xa.
VII. Một số đặc điểm thể bệnh của Ung thư tuyến giáp:
1. Thể nhú (Papillom carcinoma):
+ Là thể Ung thư tuyến giáp hay gặp nhất (chiếm 70% các Ung thư tuyến giáp). Là thể có tiên lượng tốt nhất.
+ Thường gặp ở tuổi trẻ (hơn 80% số bệnh nhân là dưới 40 tuổi). Thường biểu hiện ban đầu là một khối U đơn độc nhỏ ở tuyến giáp nên ít khi phát hiện được sớm. Sau đó khi đã có di căn hạch cổ hoặc khi U to ra và gây các hiện tượng chèn ép vùng cổ thì bệnh nhân mới đến khám để điều trị. Thể này có thể di căn vào phổi, xương và các nơi khác trong khi khối U nguyên phát vẫn còn nhỏ.
+ Tỉ lệ sống sau mổ 10 năm có thể đạt tới 70-80% nếu được phẫu thuật sớm, triệt để và điều trị bổ sung sau mổ đầy đủ.
2. Thể nang (Vesiculary carcinoma):
+ Chiếm khoảng 20-25% các Ung thư tuyến giáp. Tuy cũng là loại tiến triển chậm nhưng tiên lượng kém hơn thể nhú.
+ Thường ở tuổi 50-60 và ở vùng có bướu cổ địa phương. U thường ở một thuỳ, ít có di căn hạch cổ nhưng ở giai đoạn cuối thường có di căn xa theo đường máu, đặc biệt là hay di căn đến tổ chức xương.
3. Thể tuỷ (Medullary Carcinoma):
+ U phát sinh từ các tế bào C (tế bào cận nang có vai trò tiết Canxitonin). Chiếm khoảng 5-10% các Ung thư tuyến giáp. Tuy cũng thuộc loại tiến triển chậm nhưng tiên lượng kém hơn thể nhú và thể nang.
+ Thường gặp ở tuổi 50-60. Bệnh có tính di truyền và thường mang tính chất Bệnh đa U nội tiết ( Multiple endocrine neoplasia: MEN ). Trên lâm sàng có thể gặp Hội chứng Sipple hay MEN IIA ( Ung thư tuyến giáp thể tuỷ, U tế bào sắc tố tuỷ thượng thận hai bên và U hoặc tăng sản tuyến cận giáp).
+ Ung thư tuyến giáp thể tuỷ thường nằm ở vị trí tiếp giáp 1/3 trên và 1/3 dưới thuỳ tuyến giáp (nơi tập trung nhiều tế bào C) và có thể ở cả hai thuỳ tuyến. Di căn theo đường máu hoặc bạch huyết.
4. Thể không biệt hoá:
Chiếm khoảng 10% các Ung thư tuyến giáp, thường thấy ở các bệnh nhân nhiều tuổi. Đây là loại Ung thư tuyến giáp tiến triển nhanh nhất và tiên lượng xấu nhất, ít bệnh nhân sống quá 5 năm.
5. Ung thư biểu mô tuyến giáp thể biểu bì:
Chỉ chiếm khoảng 1% các Ung thư tuyến giáp. Cần phân biệt với các ổ dị sản Malpighi trong U tuyến giáp lành tính hoặc di căn của một Ung thư biểu bì từ đường hô hấp hoặc đường tiêu hoá trên vào tuyến giáp.
VIII. Điều trị ngoại khoa:
Trong Ung thư tuyến giáp, điều trị ngoại khoa đóng vai trò cơ bản. Điều trị hoá chất và phóng xạ được xử dụng kết hợp trước mổ và bổ xung sau mổ hoặc để điều trị mang tính chất tạm thời khi bệnh nhân không còn khả năng phẫu thuật nữa.
1. Chỉ định các phương pháp phẫu thuật:
+ Cắt bỏ thuỳ có U kèm cả Eo tuyến và cắt gần hoàn toàn thuỳ bên đối diện: khi u có đường kính < 1 cm, chỉ nằm gọn hoàn toàn trong một thuỳ và là Ung thư thể nhú. Nếu có hạch to vùng cổ thì phải tiến hành mổ lấy bỏ hoàn toàn các hạch đó.
+ Cắt hoàn toàn tuyến giáp: khi U có đường kính > 3 cm và đã xâm lấn ra ngoài vỏ bao tuyến giáp. Sau mổ cần điều trị bổ xung bằng I131 phóng xạ để tiêu diệt nốt tổ chức tuyến còn sót lại.
+ Trong mọi trường hợp đều phải mổ lấy triệt để các hạch di căn để hạn chế khả năng tái phát. Ngoài ra, sau mổ cắt toàn bộ tuyến giáp bệnh nhân thường được dùng Thyroxin kéo dài không những nhằm mục đích điều trị thay thế mà còn để làm giảm TSH trong máu, nhờ đó giảm được khả năng tái phát của bệnh.
2. Điều trị ngoại khoa một số thể Ung thư tuyến giáp:
+ Thể nang: chỉ định mổ cắt bỏ hoàn toàn tuyến giáp, sau mổ cần điều trị bổ xung bằng I131 phóng xạ.
+ Thể tuỷ: chỉ định mổ cắt bỏ hoàn toàn tuyến giáp vì U thường có ở cả hai thuỳ, chú ý điều trị tình trạng đa u nội tiết nếu có.
+ Thể không biệt hoá: nếu U còn nhỏ thì có thể mổ cắt hoàn toàn tuyến giáp. Tuy nhiên đa số bệnh nhân đều đến muộn và U đã phát triển xâm lấn mạnh các cơ quan xung quanh, do đó nhiều khi phẫu thuật chỉ mang tính chất tạm thời và không triệt để (nhiều khi mổ chỉ với mục đích khai thông và duy trì đường thở cho bệnh nhân). Phải kết hợp điều trị bằng hoá chất, tia xạ...
+ Ung thư tuyến giáp đã có di căn: có thể dùng tia xạ và hoá chất điều trị chuẩn bị mổ, sau đó mổ cắt bỏ khối U và lấy hạch di căn càng triệt để càng tốt theo điều kiện cho phép, sau mổ tiếp tục điều trị bổ xung bằng tia xạ, hoá chất...
IX. Tiên lượng chung về Ung thư tuyến giáp:
Tiên lượng về Ung thư tuyến giáp phụ thuộc vào: thể bệnh (loại mô bệnh học), giai đoạn bệnh (u xâm lấn phá vỡ vỏ bao tuyến thì tiên lượng xấu), tuổi bệnh nhân (tuổi càng cao tiên lượng càng xấu), giới (nam tiên lượng xấu hơn nữ). Nhìn chung tỉ lệ sống sau 5 năm tính theo thể bệnh thấy như sau:
+ Thể nhú: 80-90%
+ Thể nang: 50-70%
+ Thể tuỷ: 40%
+ Thể không biệt hoá: dưới 5%.
Read more…